XUÂN HÀ THÀNH

image NGUYỄN MẠNH CƯỜNG

Bây giờ thật không dễ chút nào khi muốn tìm kiếm sự trầm mặc, linh thiêng của vùng kinh đô trải qua bao thăng trầm và biến cố của lịch sử. Nét đẹp xưa cũ ngỡ như chỉ vọng về trong sử sách. Tôi miên man so sánh giữa Sài Gòn và Hà Nội. Cả hai đô thị đều sôi động và ồn ào đến ngợp thở. Nhưng chắc chắn cái sức náo nhiệt của Hà thành còn kém Sài thành nhiều lắm. Dù hối hả là vậy nhưng vẫn nhận ra nhịp điệu chậm rãi, buồn buồn của chốn kinh kỳ. Nhưng vấn thấy thiếu cái gì không rõ ràng, không tìm nhưng ngóng đợi, có lẽ là nét trầm mặc, cô tịch làm gợi nhớ nhung nỗi niềm xa mờ, sương khói.

Một ngày đầu xuân, tiết trời se lạnh, lang thang trên những con phố hiếm hoi sự hiu vắng. Thỉnh thoảng vài chiếc xe rú ga vọt qua vội vã. Không còn bắt gặp những dòng ngược xuôi hối hả. Cái lạnh bên hồ làm tê hai má. Trong khoảnh khắc bỗng nhớ đến 2 câu thơ của Bà huyện Thanh Quan: “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”. Cái đẹp của kinh kỳ khi thành cố đô lại trở thành nét đẹp điển hình của chốn phồn hoa đô hội từ khi nào? Lòng chợt muốn tìm nét xưa nay chỉ còn vắng bóng. Tháp Rùa rêu phong, mờ tỏ giữa bảng lảng sương chiều mong manh. Những ngã đường vắng lặng, tháp thoáng bóng người, gió lùa buốt lạnh, lúc ấy mới cảm nhận được một nét trầm mặc, thiêng liêng không dễ gì tìm thấy. Ngỡ như nghe phảng phất đâu đây tiếng lục lạc, vó ngựa chầm chậm, thấp thoáng kiệu quan đi tuần. Đâu đây còn vọng tiếng trống reo hò của ông cha vung gươm đánh giặc. Hồn núi sông tích tụ dệt nên linh thiêng từ những tháng năm của vận nước.

Phải nặng tình lắm mới nhận ra chỉ trong thời khắc ngắn ngủi xuân về lạnh giá. Hà thành mới phát lộ đủ đầy sự cổ kính và cô tịch. Phố phường trầm tư, cửa đóng then cài, những ô cửa im lặng. Hàng sấu già trên đường Trần Phú trong những chiếc lá vàng cuối mùa, thênh thang. Ô Quan Chưởng trầm tịch, bước chân bỗng ngập ngùng như chờ đợi điều gì mông lung. Lúc ấy nhận ra Hà thành vào xuân như cô gái lẳng lặng duyên thầm.

Đã từ bao giờ hoa sữa, loài hoa mọc ở nhiều vùng đất nước nhưng hương thơm của nó lại trở thành thú hương đặc trưng của Hà thành. Thứ hương ngọt ngào ấy đã đi vào tiềm thức của nhiều người. Nó nhuốm màu cảm xúc làm nên một vẻ đẹp lịch lãm.

Continue reading

TRÂU Ở VIỆT NAM: CẦN CÓ MỘT TƯỢNG ĐÀI

image ĐỖ ĐỨC

Con trâu là đầu cơ nghiệp. Trâu gắn bó với nông thôn Việt Nam từ bao đời nay, nên không phải thuận miệng mà người ta nói ra câu này. Có con trâu là có sức kéo, giải phóng sức lao động trên đồng. Buổi sáng, một lực điền với một con trâu mộng, làm cật lực có thể cày lật tới bốn sào đất. Còn làng nhàng thì sào rưỡi hai sào. Không có trâu, lại không có người kéo cày, chỉ dùng tay cuốc thì sào đất mất bốn công chưa xong. Cho  nên ruộng sâu trâu nái một thời để đánh giá chỗ dựa tin cậy vững chắc ở thôn quê Việt.

Ba việc lớn can hệ đến sự thay đổi cơ bản con người cuộc sống ở nông thôn: làm nhà – cưới vợ – tậu trâu đã thành một tiêu chí mang tính tổng kết về hoạch định để có tính bền vững của một gia đình thôn quê. Ba việc đó phải gắn kết cùng nhau, thiếu đi một trong ba việc là chưa thể là hoàn hảo. Ước mơ đó thật nhỏ nhưng đã tồn tại kéo dài cả trăm năm nghìn năm với nông thôn Việt Nam .
Còn nhớ cách đây vài chục năm thôi, sau vụ gặt tháng mười, thu gom rơm rạ xong là mọi nhà rậm rịch bắc vai  trâu đi cày đổ ải. Cánh đồng ngày đầu đông vui như trảy hội. Đất ruộng còn chưa khô hẳn được xá cày lật lên dẻo quánh một màu nâu. Đợi nắng cho hoai oải, ăn tết xong là bắt nước vào vụ chiêm. Con trâu chịu thương chịu khó đi vào ca dao thật ấm tình người: Trâu ơi ta bảo trâu này/  Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta/ Cấy cày vốn nghiệp nông gia/ Ta đây trâu đấy ai mà quản công/ Bao giờ cây lúa còn bông/ Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.
Tôi đã đọc những câu ca dao ấy trong sách tập đọc từ thuở đến trường và còn cặn kẽ nhớ đến ngày hôm nay. Đọc sách, học bài trên lưng trâu là việc kép trong buổi dong trâu đi gặm cỏ.
Tuổi thơ của rất nhiều đứa trẻ thành đạt ngày hôm nay đã từng mài đít trên lưng trâu, trong đó có cả những người có vị thế cao của đất nước. Tôi cũng là một trong những đứa trẻ ấy, cất cánh từ lưng trâu, dù tầm bay có thấp hơn nhiều. Những câu văn xuôi thuộc lòng trong bài cách trí: Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ, đầu tôi đội nón mê tay cầm cành tre vắt vẻo trên lưng trâu… chúng tôi thuộc vanh vách. Nhưng đa phần tuổi thơ nông thôn xưa không mấy có ước mơ hoài bão gì, phần lớn yên phận với con trâu kéo cày vì lũy tre đã che chắn mất tầm nhìn từ bao đời nay, nên cũng chẳng ai nhận ra bi kịch nghèo đói nữa. Một cuộc sống hạn chế đến tối đa các nhu cầu ăn ở sinh hoạt cho mỗi con người, luôn lấy con trâu làm chỗ dựa để mà yên tâm ngày đủ hai bữa rau muống tương cà. Đó cũng là hạnh phúc cao nhất của nông thôn ta xưa khi mà mọi kĩ thuật canh tác chưa có khoa học chen vào.

Continue reading

BÓC TỜ LỊCH CUỐI NĂM

image CHỬ VĂN LONG

Bóc tờ lịch cuối năm lòng tự nhủ – Thế là thời gian lại bắt đầu một chu kỳ mới! Nhưng Thời gian là gì nhỉ? Một cuộn chỉ vô hình, đời này qua đời khác thao mãi không ngừng, khúc lành lặn trơn tru, đoạn rối bòng bong không sao tháo gỡ, cuối cùng, nào ai đã nắm được cái lõi chỉ kia để biết cuộc sống là gì mà con người say mê làm vậy!

Thời gian như cốc nước đầy tạo hóa không ngừng nghiêng rót, mỗi người một cốc cầm tay, kẻ nhấm nháp từng ly, người một hơi dốc cạn; đến khi chiếc cốc tuội khỏi tay mình, kẻ tiếc mãi vị ngọt đầu môi, người thấm nhận tê, cay, đắng đót, chẳng ai biết vị thật cuộc sống là chi, lòng mãi khôn nguôi cơn khát…

Thời gian giống chuyến xe đời, không bến cuối cùng, cũng không nơi xuất phát; người lên xe tìm mơ mộng không đâu, kẻ chất chồng bạc tiền, lợi danh, khư khư ôm giữ… ai cũng ngỡ mình sắp về tới đích, đâu biết cả đời ta chỉ đuổi bắt kiếm tìm, lúc tưởng bàn chân đến được Thiên đường có khi lại là đang rơi xuống nơi địa ngục, còn những vòng quay chiếc xe vô định kia thì vẫn lăn mãi lăn hoài…

Thời gian tựa làn gió thoảng, vừa sớm mai đã lại buổi chiều, một ngày đợi chờ dài dằng dặc, một đời người phút chốc qua nhanh. Lúc thấy thời gian như được nhung lên nóng bỏng bởi những ham muốn dục vọng con người. Lúc lại lạnh tanh như mặt nước ao tù ngưng đọng. Thời gian luôn cứa vào ta chảy máu, rồi lại dịt lành mọi vết thương đau. Nhờ thời gian mà ta thấm nhận được hết vui buồn sự sống, những tình cảm vị tha, những tấm lòng nhân hậu, để biết yêu thương, chung thủy, đợi chờ, sàng lọc lại cho mình những gì là tốt đẹp giữa bao trắng đen, gian dối, lừa lọc… Tiếng nước mới êm dịu làm sao, nhưng mấy ai biết rằng, cái tiếng dịu êm ấy đã gọt, đã bào mòn biết bao đá núi, còn thời gian thì vẫn vẹn nguyên ăm ắp tràn đầy…

Continue reading

ĐI TÌM LỜI CHÚC ĐẦU NĂM

image PHƯƠNG NAM

Theo tục xưa, những gì xuất hiện vào đầu năm sẽ ảnh hưởng đến cả năm. Vì vậy, trong những ngày đầu xuân thì ai cũng chọn cho mình bộ quần áo “bảnh” nhất, tìm cho được những lời chúc tốt đẹp nhất để gửi đến những người thương yêu, quý trọng. Những lời chúc ấy tập trung chủ yếu vào tuổi thọ, tiền tài, danh vọng, hạnh phúc…Mỗi lời chúc thể hiện một ước mơ và đâu là ước mơ đáng để mơ nhất?

Sống lâu trăm tuổi

Sống lâu trăm tuổi là một ước mơ của người xưa khi tuổi thọ con người chỉ ở khoảng 45 – 50 năm. Ngày nay, nhờ tiến bộ của khoa học, tuổi thọ con người đang ngày càng tăng.

Theo quan niệm của Tổ chức Y tế thế giới (WHO): dưới 65 được xếp vào “lứa” trung niên, từ 65 đến 74 được gọi là cao tuổi, từ 75 – 90 mới bị gọi là già, còn lão niên phải từ 90-120. Như vậy, có lẽ bài hát “60 năm cuộc đời” của NS Y Vân sẽ phải được điều chỉnh lại! Tuy nhiên, đa số các cụ khi đã thọ lại phát hiện ra rằng, tuổi thọ không phải là tất cả Có ai vui khi thọ đến 100 tuổi trong tư thế… “ngọa triều”? Như vậy, chất lượng sống tốt mới chỉ là “chỉ tiêu” cần “phấn đấu”.

Theo giáo sư Hồng Chiêu Quang, chuyên gia nổi tiếng của Trung Quốc về bệnh tim mạch và sức khỏe người cao tuổi thì những sinh hoạt hằng ngày có khả năng làm chất lượng cuộc sống trở nên kém đi, thậm chí làm người ta đoản thọ. Trong cuốn sách “Hãy là bác sĩ của chính mình”, giáo sư Hồng hướng dẫn: Về ăn uống, hằng ngày, uống một ly sữa bò hay hai ly sữa đậu nành để không thiếu can xi, ăn một lượng chất bột vừa phải từ một đến hai bát cơm (tùy công việc nặng hay nhẹ), 100g thịt hay 200g cá, hoặc 200g đậu phụ, ăn 500g rau xanh và quả chín, không ăn no. Lưu ý ăn các chất có màu: đỏ (cà chua), vàng (cà rốt), xanh (lá chè xanh), trắng (bột yến mạch), đen (nấm mộc nhĩ) để tăng cường hệ miễn dịch, phòng bệnh. Vận động vừa sức tốt nhất là đi bộ, mỗi tuần đi bộ khoảng năm lần, mỗi lần độ 3km, khoảng 30 phút. Đi bộ giúp cơ thể không dự trữ mỡ, máu huyết lưu thông. Nếu lỡ kết tình thâm giao với thuốc lá và rượu thì nên “nói lời chia tay” càng sớm càng tốt.

Continue reading

MẠN ĐÀM TẬP TỤC TẾT

image_thumb[1][4]BÙI ĐỨC ANH TÚ

Năm nào cũng vậy, sau lễ cúng ông công ông táo, mọi gia đình quét dọn nhà cửa, sắm lễ, treo câu đối, đoàn tụ ăn bữa cơm tất niên để đón năm mới. Tết đến, mọi người chúc nhau mạnh khỏe, may mắn, chúc bạn bè gần xa nhiều tài nhiều lộc. Tất cả những tập quán và phong tục đó đã thành tự nhiên, thành lệ, nên ít người biết đến sự tích, truyền thuyết và nguyên do để tập tục Tết tồn tại đến tận bây giờ.

Truyền thuyết về cúng Táo

Cô con gái út của Ngọc Hoàng vốn hiền lành và hay thương người nghèo, chẳng thế mà người cô yêu chỉ là chàng trai giúp việc bếp núc dưới trần gian. Việc đến tai, Ngọc Hoàng bực tức và đuổi cô con gái xuống trần gian để cùng chịu tội với anh chồng nghèo. Thương con, Vương mẫu nương nương xin Ngọc Hoàng phong cho anh con rể chức “ông táo” và cô con gái đương nhiên trở thành “Bà táo”.

Vốn có lòng trắc ẩn, mỗi lần về trời thăm họ hàng rồi trở lại trần gian Bà Táo đều mang theo nhiều thức ăn và đồ dùng phân phát cho người nghèo. Không ưa gì con rể nghèo túng lại thấy con gái về khuân đồ đi phân phát cho thiên hạ, Ngọc Hoàng liền hạ chiếu mỗi năm chỉ cho con về trời một lần vào đúng ngày 23 tháng Chạp.

Sang năm thứ hai, sắp Tết rồi mà mọi người vẫn đói ăn, ngay cả gia đình ông Táo cũng vậy, đến nỗi không có miếng ăn mang theo trên đường để về trời.

Gặp phụ hoàng, cô thuật lại nỗi thống khổ của trần gian, mong được trời cứu giúp. Ngọc Hoàng không những không đồng tình, còn bắt con gái phải trở về trần gian ngay đêm hôm đó.

Nếu phải đi ngay sẽ không có gì mang về để cứu khổ cứu nạn thiên hạ, cô bèn lấy cớ nấn ná thêm ít ngày, nào là phải quét nhà, nào là phải xay đậu, nào là phải chuẩn bị thịt, gà cho đến tận ngày 30 mới “vác của” trở về trần gian.

Sau một đêm thao thức và đúng vào lúc giao thừa họ vui sướng thắp hương, đốt vàng mã và pháo nghênh đón Bà Táo trở về. Tử đó cứ vào ngày 23 tháng Chạp, người ta lại làm cỗ để tiễn đưa ông Bà Táo về trời.

Continue reading

TẢN MẠN VỀ CÂU ĐỐI TẾT

image TRẦN PHỎNG DIỀU

Sáng tác câu đối là một thú chơi tao nhã của bậc trí thức nhiều thời, có nội hàm văn hóa rất cao, thể hiện luân lý của người Á Đông nói chung, tính nhân văn của dân tộc ta nói riêng. Mỗi độ xuân về, ngoài việc trang hoàng nhà cửa, chuẩn bị bánh trái, nhà nào cũng dán câu đối.

Theo sử sách, câu đối lúc đầu là bùa bát quái được người Trung Hoa cổ xưa dùng để treo ở giữa đòn dông nhà và dán hai bên cửa để giữ yên nhà cửa, xua đuổi không cho ma quỷ đến gần. Các bùa chú này phải được đặt đúng nơi, đúng lúc và phải làm lễ cúng bái mới phát huy được tác dụng. Không chỉ dán bùa chú, người Trung Hoa cổ xưa còn vẽ hình các vị thần thánh, các nhân vật huyền thoại theo tín ngưỡng, đem dán ở cửa nhà cũng để trừ tà ma. Tương truyền, Thần Thư và Uất Luật là hai vị thần chuyên bắt những con ma hung dữ, trói chúng lại bằng cỏ lau rồi đem cho hổ ăn. Vì vậy, trong những ngày giáp tết, người ta thường vẽ hình hai vị thần này rồi dùng cọng lau treo hai bên cửa để trừ ma quỷ. Người Trung Hoa cổ xưa cũng tin rằng cây đào là linh thụ chứa tinh anh trong ngũ hành nên được gọi là cây tiên đào và có khả năng trừ ma quỷ. Do đó, vào ngày tết, người ta thường vẽ hình của Thần Thư và Uất Luật trên ván bằng gỗ đào đế trấn giữ tà ma. Sau này, gỗ đào được thay bằng giấy và các vật khác. Nội dung hình vẽ và bùa chú cũng được thay bằng các câu văn rút ra từ kinh điển hay tác phẩm văn học, hoặc những lời chúc tụng cho năm mới tốt lành và hạnh phúc. Như vậy, từ hình thức tín ngưỡng có phần mê tín ban đầu dần dần việc dán câu đối vào ngày tết đã trở thành một mỹ tục của người Á Đông.

Ngày nay, câu đối được chạm khắc hoặc viết trên gỗ rất hiếm. Trong dịp tết, câu đối thường được viết trên giấy hồng điều bằng mực tàu, chữ Hán (hoặc chữ kim nhũ vàng). Cũng có khi câu đối được viết trên giấy đó dát vàng. Nội dung của các câu đối thường mang nghĩa chúc tụng, thể hiện ước vọng an lành, cầu an khang, thịnh vượng:

Gia đình hòa dẫn xuân phong mãn

Diên kí quang đăng thọ diện cao

(Nhà đầu ấm gió xuân phơi phới

Tiếc mừng vui sao thọ ngời ngời)

Tết đến, người người thêm một tuổi, trướng thành hơn. Đó cũng là sự hãnh diện, là niềm hạnh phúc của mỗi người. Xuân về, trăm hoa đua nở, không khí mát lành là thời gian đế mọi người nghỉ ngơi, vui chơi sau một năm lao động mệt nhọc. Để tổng kết lại chặng đường trong năm qua và định hướng cho năm tới tốt lành hơn trong ngày xuân, người ta cũng thích dùng câu đối:

Continue reading

TÂM LÝ NGÀY TẾT

image PHẠM QUỲNH

Những dịp để cả một dân tộc được sống cùng nhau trong một tình cảm, một ý tưởng chung, cùng một xúc động tập thể, bao giờ cũng hiếm. Thường đấy phải là những sự kiện quan trọng, có liên quan ngay đến đời sống của cả cộng đồng, mới có thể tạo nên sự đồng nhất như vậy về ý nghĩ và rung cảm của mọi người.

Người nước Nam có cái may mắn được gặp một dịp như vậy thường kỳ, vào những ngày nhất định, mỗi lần năm mới âm lịch đến. Trong dịp ấy, tất cả trẻ con Nam Việt, từ đứa giàu nhất đến đứa nghèo khổ nhất, từ đứa tân tiến nhất đến đứa lạc hậu nhất, cùng đồng cảm trong niềm trang trọng mơ hồ, vô danh tính, ồn ào, to lớn, độc nhất, gọi là ngày Tết.

Tết, cái từ ma thuật dường như chứa đựng niềm vui mênh mông của cả một dân tộc vô tư và vui vẻ, mỗi lần một năm mới bắt đầu, lại quên bẵng đi tất cả mọi tai ương và khó khăn họ đã phải chịu đựng suốt năm qua và sẵn sàng khởi đầu lại cuộc sống trong hy vọng và niềm vui?

Vậy đâu là ý nghĩa của cái thực thể bí ẩn, kỳ lạ, mà người ta tôn sùng ngang như một vị thần và có một sức mạnh to lớn đến mức có thể gây cảm hứng trong mấy ngày cho cả một dân tộc cùng sống chung những tình cảm, có thể nói tạo nên một tâm hồn cộng đồng, nhất là đem lại cho họ niềm tin mỗi lần lại bừng sống lại mà ta đôi khi rất cần trong một cuộc tồn sinh thường rất khó khăn và bấp bênh?

Ngày Tết còn hơn là một ngày đầu năm rất nhiều, vả chăng nó kéo dài hơn một ngày, và nếu ta tính cả những chuẩn bị trước đó cùng những cuộc vui và giải trí tiếp sau, thì có thể nói nó kéo dài ít nhất là ba tuần. Dù sao, tâm trạng nó gây ra không dễ bị xoá đi trong một ngày và nghiên cứu nó quả là điều rất thú vị để hiểu được tất cả tầm quan trọng của sự trọng thể có thể coi là có tính chất quốc gia này, nếu điều đó không đồng thời cũng có ở Trung Hoa, nước Trung Hoa thật sự là Trung Hoa, nếu không phải là nước Trung Hoa Âu hoá một cách mơ hồ đang mỗi ngày kiên trì tự phủ nhận chính mình kia.

Continue reading

TẾT NGUYÊN ĐÁN – MỘT GIÁ TRỊ TÂM LINH CỦA NGƯỜI HÀ NỘI

0107Av11L MAI THỤC

Với người Hà Nội, ngày Tết Nguyên Đán có một giá trị tinh thần rất lớn. Giá trị đó ẩn sâu trong đời sống tâm linh của mỗi người, trong gia đình và cả cộng đồng mà ta có thể gọi chung là một giá trị tâm linh của Văn hoá Gia đình Việt Nam. Bởi trong những ngày Tết, mọi việc chỉ diễn ra trong gia đình với tất cả những thuần phong mỹ tục từ nhiều đời truyền lại, cuốn hút tất cả mọi người.

Trong những ngày Tết, người Việt Nam hoàn toàn tuân theo những giá trị bắt nguồn từ cái thiêng liêng, cái bí ẩn, tôn thờ những giá trị không vụ lợi mà rất trừu tượng, mông lung, có thể coi chúng là đời sống tâm linh.

Nếu trong thời thơ ấu, ta chờ mong Tết để được mặc quần áo mới, được ăn bánh chưng, được chạy nhảy vui đùa thoả thuê, thi khi tóc đã pha sương, ta lại cảm nhận cái Tết cổ truyền thắm đượm tình người trong trời đất, sâu thẳm nơi cội nguồn bản thể mà gia đình là cái nôi nuôi dưỡng nó. Những phong tục tập quán đậm đặc trong mấy ngày Tết diễn ra trong các gia đình, tạo thành nếp nhà, làm nên một giá trị tâm linh của văn hoá gia đình. Nhờ những ngày Tết, con người được trở về với chính mình. Dù ai đi đâu, ở đâu thì những ngày Tết cũng phải trở về với gia đình, tuân theo những tục lệ thiêng liêng, làm tròn bổn phận của mình với Trời, Đất, với Tổ tiên, ông bà, cha mẹ, vợ con và người thân ruột thịt một cách tự nguyện, đầy mẫn cảm. Những ngày đó con người xã hội lắt léo tạm biến đi, nhường chỗ cho con người cá nhân chân thật, đầy tình cảm, đầy thương yêu, nhân nghĩa… sống dậy trong mối giao cảm thiêng liêng với Trời, Đất, với cõi thiêng, với người ruột thịt qua các tục lệ trong nhà như: lễ cúng Ông Táo, lễ Tống Cựu Nghinh Tân, lễ tiễn ông vải, lễ cúng giao thừa, xông nhà, chúc Tết, mừng tuổi, thăm hỏi họ hàng… Có thể nói mỗi một cái lễ là một bài học giáo dục trực quan, luồn lách trong tâm khảm mỗi con người, khơi dậy cái thiện, xoá đi cái ác. Vì thế trong các ngày Tết, con người ai cũng tốt hơn, và mong mỏi cho người khác tốt hơn, đẹp hơn. Họ chúc nhau “Năm mới vạn sự tốt lành”, “Năm mới an khang thịnh vượng”. Lời chúc đó xuất phát từ cái tâm lương thiện, nên nó chân thật, không phải là những lời giả dối. Vì những tục lệ ngày tết có giá trị văn hoá cao như vậy, nên xin các bà mẹ, bà vợ, người con dâu trong nhà đừng bỏ qua nó, mà hướng tâm chu đáo trong mọi việc lễ đó để khơi dậy cái tâm, cái đức trong con người và kéo mọi thành viên trong gia đình về với tổ ấm của mình.

Continue reading

TẾT HỘI XUÂN VÀ TÂM LINH

image CHU HẢO

Các bạn nước ngoài am hiểu Văn hóa Việt Nam thường dùng nguyên văn chữ TẾT để chỉ ngày lễ đầu năm âm lịch của Việt Nam, chứ không dịch sang một ngôn ngữ tương đương nào khác, bởi thật sự không có sự tương đương nào cả…Tết của Việt Nam vô cùng đặc biệt cả về hình thức lẫn nội dung.

Hẳn có người bảo rằng Tết xuất phát từ chữ Tiết trong cụm từ lễ Xuân tiết, là lễ đầu năm âm lịch của Trung Hoa . Tuy nhiên sự giống nhau căn bản giữa Tết ta và lễ Xuân tiết chỉ là ở chỗ đều xẩy ra hàng năm vào dịp đầu năm âm lịch, vào lúc hết đông sang xuân.

Khi thiên nhiên ở vùng văn minh lúa nước như kết thúc một vòng sinh thái, vạn vật tái sinh, câu cối đâm chồi nảy lộc; lòng người cũng mở ra, hồ hởi đón nhận một năm mới chứa chan hy vọng. Còn thì phong tục tập quán mỗi nơi một khác, Tết Việt Nam có những nét chỉ là của riêng ta.

Tết của Việt Nam trước hết là: “tiếng gọi mênh mông của tất cả những người con của nước Nam, trong dịp đổi mới của toàn bộ đất trời và của muôn vật, gào lên niềm tin vào cuộc sống cùng niềm khát khao hạnh phúc và an vui của mình”1).

Vào những ngày đầu xuân mới, một không khí vui tươi, nhộn nhịp tràn ngập khắp thôn quê và thành thị; ai ai cũng muốn rũ bỏ phiền não và giận hờn, mong được độ lượng, được nói và nghe những lời thân ái; Gia đình xum vầy và đình đám hội hè tấp nập.

Cái không khí tưng bừng ấy còn được hào hiệp khuyếch trương lên bằng các hình thức đón Tết hết sức độc đáo của riêng người Việt Nam ta.

Với mỗi người, ngay từ trước Tết đã lo sắm quần áo mới đẹp đẽ và sang trọng để sáng mồng một Tết đến chúc Tết ông bà cha mẹ, thăm họ hàng và bè bạn, rồi từ mồng hai Tết là đi hội hè.

Continue reading

ĐÁNH THỨC ĐẤT TRONG TẾT NGUYÊN ĐÁN

7 NGUYỄN VINH PHÚC

Nguyên đán là từ Hán – Việt. Như vậy từ “Tết” có tên gọi khi nước ta tiếp xúc với văn hóa Hán. Cái tên Tết mà các cụ xưa dùng để chỉ Tết Nguyên đán thì cũng là diễn nôm chữ “Nguyên”. Nguyên có nghĩa là bắt đầu, lớn, đứng đầu. Kinh Dịch cũng bắt đầu bằng quẻ Nguyên.

Trước thời Bắc thuộc, ở ta, Tết là một loại hội mùa, tổ chức vào thời gian rỗi rãi, gặt hái đã xong, cày đất đã vãn, bất đầu chuẩn bị một vụ mùa mới, làm màu hoặc lúa chiêm. Do có giao lưu với văn hóa Hán mà từ hội mùa chuyển thành loại hình Tết Nguyên đán ở người Kinh, người Mường, người Tày, người Nùng…với sự gia cố thêm vào ý nghĩa hội mùa một ý nghĩa khác nữa là đánh dấu một “tiết”, tức một cung đoạn của thiên nhiên trong chu kỳ nông lịch.

Động thổ xưa…

Do là hậu thân của các hội mùa nên xem ra các nghi thức tiến hành của Tết Nguyên đán Kinh, Mường v.v…đều giống nhau ở những điểm cơ bản:

1. Tết là dịp để phô bày những thành quả, sản phẩm của lao động, những của ngon vật lạ làm ra trong quá trình sản xuất: mọi người bày mâm ngũ quả, làm các loại bánh, nấu các loại cỗ…
2. Tết còn nhằm lý giải sự hòa đồng giữa cá nhân, gia tộc và làng xóm, cũng như giữa con người và thiên nhiên. Điều này thể hiện tục lệ xông đất, mừng tuổi, hái lộc…
3. Tết còn là dịp để mọi người biểu thị những sáng tạo văn hóa như tổ chức các lễ hội, đặc biệt có một nghi thức mà ở hai tộc người Kinh và Mường rất giống nhau, đó là nghi thức lễ động thổ trong ngày Tết Nguyên đán.

Trong phong tục Tết của người Kinh xưa có lệ kiêng kỵ là ở ngày đầu năm, khi làng chưa làm lễ động thổ thì không ai được động đến đất, không được cuốc xới đã đành mà cả chẻ củi, giã gạo cũng kiêng. Có vẻ là dị đoan, nhưng thực chất là bảo lưu một tín ngưỡng cổ nảy sinh từ vũ trụ quan của người thời nguyên thủy.

Người xưa vốn lấy con người làm gốc để suy luận và giải thích về vũ trụ . Như xét về sự đắp đổi của thời gian thì cứ mỗi lần xuân tới, thiên nhiên bừng sáng, cây cỏ tươi tốt lên, đâm chồi nảy lộc, nhựa đào ứ trong thân cành. Đó là nhờ đất mẹ đã tiếp cho nguồn sinh lực mới.

Continue reading

CHĂM CHÚT BÀN THỜ NGÀY TẾT

image KIM THOA

Thờ phụng tổ tiên là một trách nhiệm có tính cách luân lý đối với người Việt Nam, nó thể hiện cho nhu cầu được phát lộ tình cảm và niềm tin huyết thống trong môi trường gia đình. Công việc chăm chút bàn thờ là cách để con cháu bày tỏ lòng yêu kính và tưởng nhớ đế ông bà tổ tiên. Vì thế, mỗi độ “năm hết Tết đến”, việc chăm chút bàn thờ là công việc được mọi người chú ý trước tiên.

Ý nghĩa của sự sạch sẽ

Bàn thờ là nơi ngự vị của các bậc tiền nhân trong gia đình vì thế nó thường được đặt ở vị trí trung tâm và cao nhất trong nhà. Điều này không chỉ để tránh sự va chạm mà còn tránh gió, bụi bặm và côn trùng. Việc lau dọn sạch sẽ bàn thờ là công việc trước tiên và được thực hiện một cách cẩn thận, tỉ mỉ.

Chổi quét hoặc khăn lau bàn thờ thường được dùng riêng, và rất hạn chế sự chung đụng. Nước lau bàn thờ thường được dùng từ nguồn nước sạch sẽ, có người còn dùng nước mưa thậm chí nước nấu từ lá trầu, lá bồ đề để lau.

Trong tâm thức người Việt, người đã khuất và người còn sống luôn có một mối quan hệ mật thiết với nhau. Không gian thờ tự là không gian thiêng liêng trong gia đình, là nơi lưu giữ nhiều ẩn ức tình cảm giữa các thế hệ, chính vì thế việc giữ gìn bàn thờ luôn sạch sẽ, mát mẻ không chỉ thể hiện sự chăm sóc và tôn kính của con cháu đối với ông bà tổ tiên mà còn là sự chăm sóc đến cái tôi tâm linh ở mỗi con người.

Không phải đợi lúc năm hết tết đến, nhân dịp giỗ chạp hay vào những ngày sóc vọng, người ta mới dọn dẹp và chăm chút bàn thờ. Tuy nhiên, phải vào những ngày cận tết, chúng ta mới thấy hết được không khí bận bịu, tất bật của việc dọn dẹp và chuẩn bị sắm sửa đồ thờ. Từ việc đánh sáng lại bộ tư đồng, lau chùi khung ảnh, thay cát bát hương (nhang)… đều thể hiện cho nhu cầu giao hòa, gắn kết mật thiết giữa thế giới hữu tình và thế giới tâm linh thiêng liêng.

Công việc quét tước nhà cửa thường là việc của phụ nữ trong nhà vì nó đòi tính cẩn thận, tỉ mỉ. Song việc bày bàn thờ ngày Tết lại được ưu ái dành cho quý ông, đơn giản vì việc ấy nặng nhọc hơn. Hơn thế, người đàn ông là chủ gia đình, phải đại diện chăm lo nơi cư ngụ của tổ tiên để tỏ lòng hiếu kính.

Phụ nữ trong nhà thì lo việc bếp núc, nấu nướng và dọn dẹp gian bếp. Đó là cách nhìn từ văn hóa truyền thống xưa kia. Ngày nay, nhất là nơi đô thị, chúng ta không còn biệt rạch ròi việc này như trước. Việc bày biện hay thắp hương (nhang) trên bàn thờ không phân biệt nam nữ, tuổi tác như ở thôn quê. Tuy nhiên, để giữ nếp xưa, mọi nhà vẫn mời người lớn tuổi nhất họ hay nhất nhà ra khấn và thắp hương cho ông bà tổ tiên trong những ngày quan trọng như: tất niên, đêm giao thừa, mừng năm mới, cúng tiễn… Continue reading

TẾT VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH THỜI HỘI NHẬP

image TRẦN THỊ TRƯỜNG

Xuân đến Tết về không chỉ là ngày, là mùa đón khí mới mà còn là dịp con người tri ân tổ tiên, nguồn cội, biểu tỏ tình yêu thương với gia đình, người thân, bạn bè…

Tết thời hội nhập

Cứ nhìn dòng người ngược xuôi hối hả trong những ngày áp Tết đủ thấy người Việt lo và thích sắm Tết như thế nào. Ngày xưa, của cải vật chất chưa dồi đào, sắm Tết cơ bản để có thực phẩm dùng trong những ngày Tết, khoảng thời gian chợ không họp, mọi người nghỉ ngơi đi chơi. “Dửng dừng dưng bánh chưng ngày Tết” là câu để nói ngày Tết người ta không mấy ăn uống. Không mấy ăn uống nhưng vẫn sắm Tết. Hơn nữa sắm Tết không chỉ cho mình, gia đình mình mà còn cho người khác. Tết anh em, bè bạn, ân nhân, sắm quần áo mới, giày dép mới, đồ dùng mới cho con cái, cháu chắt…

Những phong tục Tết tốt đẹp như sắm Tết, xông nhà, chúc Tết, mừng tuổi… có vẻ như để chú trọng nuôi dưỡng tình cảm và các mối quan hệ giữa con người với con người nhất là quan hệ gia đình, dòng tộc. Nhờ giữ gìn phong tục người ta trở nên gần gũi, thân thiết hơn, các giá trị trở nên thiêng liêng hơn, gắn bó sâu sắc với nhau hơn và trở thành bản sắc văn hóa, dấu ấn tinh thần của mỗi cá thể và mỗi dân tộc.

Không ít người có công việc phái xa quê hương bản quán nhưng mỗi khi Tết đến dù bận đến mấy cũng thu xếp trở về là bởi cái nỗi nhớ những phong tục đó. Lại có những người Tết đến là dịp du xuân Thông thường, tùy năm tùy tuổi người ta chọn hướng xuất hành, chọn nơi thăm viếng, thưởng ngoạn, khám phá. Hội nhập bây giờ chuyện du xuân càng thêm tấp nập. Đi đề biết đó biết đây, biết mình giống ai, ai giống mình và khác nhau như thế nào để hiểu thêm phong tục vừng đất khác, dân tộc khác…

Continue reading