MỘT XÃ HỘI LẬP NGHIỆP CẦN MỘT NHÀ NƯỚC LẬP NGHIỆP

TS. MARIANA MAZZUCATO – Đại học London (Khi viết bài này, bà là giáo sư kinh tế tại Đại học Sussex, Vương quốc Anh). Nguyễn Trịnh Đôn dịch

Tăng trưởng nhờ đổi mới sáng tạo có thể làm được những điều không tưởng hiện đang thách thức chủ nghĩa tư bản hiện đại: làm cách nào để tạo ra tăng trưởng kinh tế bền vững và kéo dài trên nền tảng những công việc lương cao và đem lại giá trị lớn. Đây là cốt lõi của xã hội lập nghiệp (entrepreneurial society) và là một mục tiêu tốt. Vấn đề là làm sao đạt được mục tiêu đó.
Dù nhiều nước đã đề ra mục tiêu này, nhưng con số những nơi thực hiện được vẫn còn khiêm tốn. Lý do của khó khăn này nằm ở những hiểu lầm phổ biến về cách thức đạt được tăng trưởng nhờ đổi mới sáng tạo (innovation) trước đây. Cách hiểu sai này khiến việc đề ra chính sách bị đưa theo những lối lập luận sai vốn cho rằng các nhà lập nghiệp và công ty cá nhân là nhân vật trung tâm của câu chuyện. Nếu không bị thách thức, những lập luận này sẽ đưa đến những chính sách gây cản trở và lối phân phối thành quả không phản ánh sự phân bố rủi ro trên thực tế.

Một xã hội lập nghiệp cần một nhà nước lập nghiệp (entrepreneurial state), một nhà nước mà thông qua tầm nhìn cùng những đầu tư công chiến lược phân bố khắp chuỗi đổi mới sáng tạo có thể tạo ra cái tinh thần động vật (animal spirit)1 ở các doanh nghiệp tư nhân. Các doanh nhân lập nghiệp (entrepreneur) từ đó sẽ nhìn thấy các cơ hội tăng trưởng, rồi đầu tư sẽ diễn ra.

Continue reading

VIỆT NAM TRONG CHIẾN LƯỢC CỦA TRUNG QUỐC HIỆN NAY

PGS-TS. ĐINH CÔNG TUẤN – Viện nghiên cứu châu Âu

1. Chiến lược toàn cầu, châu Á – Thái Bình Dương của Trung Quốc hiện nay

Gần 100 năm qua kể từ khi thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc (1921) và hơn 70 năm thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1949), mục tiêu chiến lược của TQ không hề thay đổi, đó là xây dựng TQ trở thành cường quốc số 1 lãnh đạo thế giới. Sau Đại hội XVII Đảng Cộng sản TQ (2012), TQ đã vươn lên đứng thứ 2 thế giới (sau Mỹ) về quy mô nền kinh tế, GDP đạt 2100 tỷ USD. TQ đã đưa ra lý luận về việc "phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa", xây dựng "Giấc mộng Trung Quốc" với 2 mục tiêu có tính tiêu chí: "2 mục tiêu 100 năm" (Kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng (1921-2021) nhằm xây dựng xã hội khá giả toàn diện (thoát nghèo, xây dựng xã hội trung lưu) và kỷ niệm 100 năm thành lập nước (1949-2049) xây dựng thành công Nhà nước TQ hiện đại hóa XHCN, văn minh, dân chủ, giàu mạnh, hài hòa (TQ vững mạnh, trở thành cường quốc, lãnh đạo thế giới). Đến sau Đại hội XIX (2017) TQ đưa ra 3 mục tiêu đến năm 2049, 2 mục tiêu đã nêu trong Đại hội XVII (2012) không hề thay đổi, chỉ bổ sung thêm mục tiêu đến năm 2035 xây dựng TQ trở thành cường quốc khu vực châu Á – Thái Bình (CA – TBD). Về chiến lược toàn cầu thì đã rõ ràng. Còn về chiến lược của TQ tại khu vực CA-TBD thì sách trắng của TQ công bố ngày 10/01/2017 đã đưa toàn bộ nội dung bao gồm 6 phần như sau: 1) Chủ trương chính sách của TQ đối với sự hợp tác an ninh trong khu vực CA-TBD; 2) Ý tưởng an ninh ở khu vực CA-TBD của TQ; 3) Mối quan hệ giữa TQ với những nước chủ yếu trong khu vực CA-TBD; 4) Lập trường và chủ trương của TQ về các vấn đề nóng trong khu vực; 5) TQ tham gia cơ chế đã biên trong khu vực;  6) TQ tham gia hợp tác an ninh phi truyền thống trong khu vực CA-TBD[1].

Continue reading

TẠI SAO TIN GIẢ THAO TÚNG XÃ HỘI?

 CAILIN O’CONNOR & JAMES OWEN WEATHERALL  (Nguyễn Cường lược dịch)1

Giữa thế kỷ 19, loài sâu sừng cà chua có kích thước bằng ngón tay lan rộng khắp vùng đông bắc Hoa Kỳ. Sau đó bắt đầu xuất hiện các báo cáo đáng sợ về khả năng loài này có thể gây độc cho con người tới mức tử vong. Vào tháng 7/ 1869, các tờ báo còn đăng tin về một cô gái ở Red Creek, New York đã “rơi vào tình trạng co cứng, cuối cùng tử vong’’ sau khi nhiễm độc từ sinh vật này. Mùa thu năm đó, tờ Syracuse còn đăng một bản báo cáo từ bác sĩ Fuller, cảnh báo rằng sâu sừng ”độc như  rắn chuông” và nói rằng đã có 3 ca tử vong liên quan tới nọc độc của nó.

Lan truyền thông tin sai lệch thường hiệu quả nhất bằng cách sử dụng một phần của sự thật.

Thực tế, sâu sừng cà chua là một loài phàm ăn có thể tước sạch cây cà chua trong vài ngày, nhưng vô hại với con người. Các nhà côn trùng học đã biết điều này trong nhiều thập kỷ trước khi BS Fuller công bố bản báo cáo của mình, và tuyên bố của ông đã bị các chuyên gia chế giễu. Vậy tại sao những tin đồn vẫn tồn tại bất chấp sự thật? Con người là những sinh vật học tập xã hội. Chúng ta phát triển hầu hết niềm tin của mình từ thông tin, kiến thức của những người đáng tin cậy khác như giáo viên, phụ huynh và bạn bè. Việc truyền tải kiến thức xã hội này là trái tim của văn hóa và khoa học. Thế nhưng như câu chuyện về sâu sừng cà chua cho chúng ta thấy, một lỗ hổng lớn: đôi khi những tri thức chúng ta lan truyền là sai.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 45/TANDTC-PC NGÀY 30 THÁNG 3 NĂM 2020 CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VIỆC XÉT XỬ TỘI PHẠM LIÊN QUAN ĐẾN PHÒNG, CHỐNG DỊCH BỆNH COVID-19

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

1. Hướng dẫn xác định tội danh theo quy định của Bộ luật Hình sự

1.1. Người đã được thông báo mắc bệnh; người nghi ngờ mắc bệnh hoặc trở về từ vùng có dịch bệnh Covid-19 đã được thông báo cách ly thực hiện một trong các hành vi sau đây gây lây truyền dịch bệnh Covid-19 cho người khác thì bị coi là trường hợp thực hiện “hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 240 và xử lý về tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm cho người:

a) Trốn khỏi nơi cách ly;

b) Không tuân thủ quy định về cách ly;

c) Từ chối, trốn tránh việc áp dụng biện pháp cách ly, cưỡng chế cách ly;

d) Không khai báo y tế, khai báo không đầy đủ hoặc khai báo gian dối.

1.3. Chủ cơ sở kinh doanh, người quản lý cơ sở kinh doanh dịch vụ (như quán ba, vũ trường, karaoke, dịch vụ mát-xa, cơ sở thẩm mỹ…) thực hiện hoạt động kinh doanh khi đã có quyết định tạm đình chỉ hoạt động kinh doanh để phòng, chống dịch bệnh Covid-19 của cơ quan, người có thẩm quyền, gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng trở lên do phát sinh chi phí phòng, chống dịch bệnh thì bị xử lý về tội vi phạm quy định về an toàn ở nơi đông người theo quy định tại Điều 295.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 13/TANDTC-PC NGÀY 24 THÁNG 2 NĂM 2020 CỦA TANDTC về việc hướng dẫn bố trí trang thiết bị cần thiết cho Toà Gia đình và Người chưa thành niên

TÒA ÁN NHÂN DÂN TÔI CAO

1. Phòng xử án

Phòng xử án và giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa Gia đình và Người chưa thành niên phải bảo đảm đúng theo quy định tại Thông tư số 01/2017/TT-TANDTC ngày 28-7-2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Phòng xử án được trạng bị rèm che hoặc màn che có thể gấp gọn để chắn không cho nạn nhân là trẻ em, người chưa thành niên nhìn thấy bị can, bị cáo; Các trang thiết bị để thu phát việc lấy lời khai của trẻ em, người chưa thành niên trong qúa trình xét hỏi tại phiên tòa gồm: Màn hình ti vi; May tính hoặc thiết bị phát video được kết nối với màn hình ti vi; Loa, có điều khiển từ xa để điều chỉnh âm lượng; Thiết bị ghi âm, ghi hình, mạng tinternet, mạng truyền hình trực tuyến và các trang thiết bị khác phục vụ cho công tác xét xử; Máy điều hòa không khí.

2. Phòng hòa giải

Phòng hòa giải thiết kế với nền tường màu xanh, treo tranh, ảnh về thiên nhiên, con người và được bố trí bàn hình tròn hoặc hình bầu dục.

3. Phòng chờ

Phòng chờ có thể được sử dụng nhằm một số mục đích như sau:

Tạo không gian riêng tư, thân thiện để trẻ em và người chưa thành niên cùng cha mẹ, người giám hộ, người lớn đi kèm ngồi chờ khi ở Tòa án, để trẻ em, người chưa thành niên tạm nghỉ khi thấy căng thẳng, không khỏe hay cần nghỉ ngơi trong quá trình xét xử, cung cấp lời khai trước tòa, để được cha mẹ, chuyên gia tâm lý hoặc cán bộ xã hội an ủi, khích lệ…

Continue reading

MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI LÀM LÂY LAN DỊCH BỆNH TRUYỀN NHIỄM GÂY NGUY HIỂM CHO CON NGƯỜI

TS. ĐỖ THÀNH TRƯỜNG – Viện Kiểm sát nhân dân tối cao

Hiện nay, tình hình dịch bệnh viêm đường hô hấp do chủng mới của vi rút Corona (Covid-19) đang có diễn biến phức tạp trên thế giới và tại Việt Nam, gây ra hậu quả thiệt hại, khó lường về kinh tế, trật tự an toàn xã hội. Vậy pháp luật Việt Nam có những quy định cụ thể nào liên quan đến hành vi làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm gây nguy hiểm cho người?

Hiện nay, ở Việt Nam, quy định về phòng, chống bệnh truyền nhiễm; kiểm dịch y tế biên giới; chống dịch; các điều kiện bảo đảm cho công tác phòng, chống bệnh truyền nhiễm ở người được quy định cụ thể trong Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm (Luật số 03/2007/QH12 ngày 21/11/2007). Các tội phạm về môi trường được quy định từ Điều 235 đến Điều 246 thuộc Chương XIX Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); trong đó tại Điều 240 quy định cụ thể về tội “làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người”.

Về hiệu lực áp dụng Điều luật

Hiệu lực áp dụng Điều 240 BLHS năm 2015 được quy định tại Điều 5, Điều 6 và Điều 7 của Bộ luật này. Bên cạnh đó, theo Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 94/2015/QH13 thì hiệu lực áp dụng của Điều 240 BLHS năm 2015 được quy định cụ thể như sau:

Continue reading

XỬ LÝ KHỦNG HOẢNG SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG: Vì sao không thể đổ hết trách nhiệm cho Nhà nước

 SARAH JO BREGMAN & NGUYỄN PHÚC ANH

Dịch bệnh là một dạng khủng hoảng sức khoẻ cộng đồng mang tính nhân tạo mà không một Nhà nước, chính quyền nào, dù mạnh mẽ hiệu quả đến đâu cũng có thể dễ dàng xử lý nếu thiếu sự nỗ lực và đóng góp chung của từng thành viên cộng đồng. Quan điểm quy giản trách nhiệm xử lý dịch bệnh là của nhà nước chưa đánh giá đúng vai trò và ý thức trách nhiệm của từng cá nhân trong việc xử lý những khủng hoảng mang tính cộng đồng.

Hơn bao giờ hết, chúng ta đang sống trong một xã hội mà quyết định của một cá nhân có thể ảnh hưởng đến sinh mệnh của cả cộng đồng.

Bối cảnh bùng phát virus Covid-2019 ở Việt Nam và phản ứng ban đầu của Nhà nước

Virus Covid-2019 đã bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam theo như ghi nhận là vào ngày 23 tháng 01 năm 2020. Từ thời điểm chính thức phát hiện dịch cúm cho đến nay, chính quyền không ngừng đưa ra những biện pháp khác nhau để nhanh chóng kiểm soát dịch bệnh lây lan trên diện rộng và để minh bạch trong hoạt động phòng/chống dịch của Nhà nước.

Continue reading

GIỚI HẠN ĐẠO ĐỨC CỦA THỊ TRƯỜNG

 MICHAEL J.SANDEL – Giáo sư triết học chính trị, Đại học Harvard (Mỹ)

(Nguyễn Trịnh Đôn dịch)

Chúng ta đã trôi dạt từ chỗ có  (kinh tế thị trường (market economy) đến chỗ trở thành xã hội thị trường (market society) mà gần như không hề hay biết. Sự khác biệt nằm ở chỗ: kinh tế thị trường là công cụ – một công cụ rất giá trị và hiệu quả – trong tổ chức hoạt động sản xuất; còn xã hội thị trường thì ngược lại là một xã hội mà cái gì cũng đem ra bán được. Xã hội thị trường là một lối sống mà giá trị thị trường len lỏi vào mọi mối quan hệ xã hội và thống trị mọi mặt của đời sống.

Ngày nay, tiền gần như mua được tất cả mọi thứ. Những việc mua bán này có gì sai trái không? Để trả lời cho những câu hỏi như thế, chúng ta phải đặt ra câu hỏi lớn hơn: Tiền bạc và thị trường đóng vai trò gì trong một xã hội tốt đẹp?

Nếu ta bị phạt tù ở Santa Barbara, bang California, nhưng lại không thích điều kiện chuẩn của nhà tù thì ta có thể mua gói nâng cấp buồng giam của mình với giá 90 USD/đêm.

Nếu ta muốn ngăn chặn cái thực trạng bi kịch rằng mỗi năm có hàng ngàn đứa trẻ do các bà mẹ nghiện hút sinh ra thì ta có thể đóng góp vào một quỹ từ thiện dùng cơ chế thị trường để cải thiện vấn đề: đó là tặng 300 USD cho bất kỳ phụ nữ nghiện hút nào tình nguyện đi triệt sản.

Continue reading

ĐẬP VỠ TRẦN ĐỊNH KIẾN

 ĐẶNG THỊ HẢI HÀ

Bất bình đẳng giới luôn được hiểu là khoảng cách về trình độ và vị thế giữa phụ nữ và đàn ông. Thế nhưng các nghiên cứu quốc tế lại cho rằng sự tự tin mới là thứ phụ nữ thiếu và chính nó khiến họ thua thiệt so với đàn ông.

Hàng chục nghiên cứu toàn cầu về phụ nữ và nữ quyền đã chỉ ra rằng các tập đoàn hàng đầu thế giới luôn vượt mặt đối thủ cạnh tranh nhờ tuyển dụng thành công các vị trí lãnh đạo và nhân viên nữ. Chúng ta có kiến thức, kỹ năng vượt bậc ở mọi khía cạnh để hoàn thành công việc ở mức xuất sắc. Thế nhưng chúng ta vẫn lẹt đẹt ở hàng dưới trong danh sách các lãnh đạo cấp cao, năm thì mười họa mới có mặt ở top dẫn đầu. Con số tổng hợp cụ thể thì hiếm khi ở tình trạng tăng đều. Nhân viên nữ mới vào nghề thì vẫn khó có thể thoát khỏi cảnh pha trà mở cửa đón khách. Nửa thế kỉ trôi qua, con đường sự nghiệp của phụ nữ vẫn rất khác so với đàn ông? Tại sao vậy?

Phụ nữ tự ti như thế nào?

​Phương là một sinh viên tốt nghiệp xuất sắc tại một trường đại học có tiếng ở châu Âu. Cô luôn đạt điểm giỏi trong suốt thời gian học và luận văn tốt nghiệp của cô luôn nằm trên giá sách của vị giáo sư hàng đầu về quản trị kinh doanh. Bất kể khi nào có khách ghé thăm từ Việt Nam ông cũng tự hào giới thiệu về cô và đề tài tốt nghiệp của cô. Thế nhưng khi có cơ hội thực tập và làm việc tại một tập đoàn toàn cầu rất lớn ở Bỉ, cô đã rất khổ sở đắn đo và rồi quyết định trở về Việt Nam, thay vì tiếp nhận công việc trong mơ. Lý do căn bản là sau một biến cố về gia đình, cô không tự tin mình có thể vừa thành công trong công việc vừa làm một người mẹ tốt. Cô trở về nhà để tiện nhờ ông bà chăm sóc con. Công việc đầu tiên cô có được ở Việt Nam cũng lại qua vị giáo sư nọ giới thiệu và bảo lãnh uy tín. Cho đến bây giờ sau hơn 5 năm trở về, cô vẫn vật vã với khả năng cân bằng cuộc sống riêng và công việc.​

Continue reading

BÀI HỌC NÀO CHO DOANH NHÂN QUA VỤ LY HÔN CỦA VỢ CHỒNG “VUA CÀ PHÊ” TRUNG NGUYÊN?

LS. ĐỖ ĐĂNG KHOA – Công ty Luật Bất động sản Hưng Vượng, TP.HCM

Những ngày này, báo chí và dư luận xã hội đặc biệt quan tâm đến vụ án ly hôn nổi tiếng vợ chồng ông Đặng Lê Nguyên Vũ và bà Lê Hoàng Diệp Thảo là chủ của Tập đoàn Trung Nguyên do Tòa án Tp.Hồ Chí Minh xét xử công khai từ ngày 20/2/2019.

Điểm mấu chốt gay gắt nhất dẫn đến không thể hòa giải giữa hai vợ chồng, đó là chia cổ phần tại Tập đoàn Trung Nguyên. Ông Vũ đòi chia 70% cổ phần; bà Thảo đòi 51% cổ phần. Cổ phần không chỉ có giá trị về mặt tài sản mà còn có giá trị đặc biệt về quyền biểu quyết, điều hành phát triển Trung Nguyên trong tương lai.

Với ông Vũ thì mục tiêu cần nắm quyền điều hành là quan trọng nhất vì Trung Nguyên là đứa con tinh thần, là sự nghiệp, là khát vọng xây dựng cà phê phải khác biệt, đặc biệt, duy nhất trên thế giới nên ông Vũ đòi chia 70% cổ phần và muốn mua lại phần 30% của bà Thảo. Còn bà Thảo dường như muốn tất cả: nhà đất, tiền trong ngân hàng, cổ phần, con cái và cả quyền điều hành Trung Nguyên. Vì vậy cuộc chiến giữa hai vợ chồng bắt đầu bùng nổ năm 2015 khi ông Vũ cùng Hội đồng quản trị bãi nhiệm bà Thảo với chức danh Phó TGĐ điều hành. Đến giờ ông Vũ, bà Thảo và các công ty của Trung Nguyên có đến hàng chục vụ tranh chấp trên khắp các mặt trận và đang chờ Tòa án xét xử.

Ông Vũ cho rằng mình xứng đáng được hưởng 70% cổ phần vì ông là người đại diện, chủ tịch HĐQT, là trụ cột điều hành, là linh hồn của cà phê Trung Nguyên và điều này là hiển nhiên – không tin “hãy hỏi tất cả những người anh em trong Tập đoàn”.

Continue reading

GIÁO DỤC ĐẠI HỌC: NHỮNG VẤN ĐỀ CHƯA ĐƯỢC GIẢI QUYẾT THỎA ĐÁNG

BÙI TRỌNG LIỄU – Nguyên giáo sư đại học (Paris, Pháp)

Có những vấn đề trong giáo dục đại học tới nay chưa được giải quyết thỏa đáng, tuy nằm trong tầm tay, và không cần phương tiện tốn kém. Đó là trường hợp một số vấn đề nêu dưới đây.

I. Vấn đề nhà giáo đại học 

Vấn đề đội ngũ nhà giáo đại học là khởi thủy của nhiều vấn đề của nền giáo dục nói chung, bởi vì có thầy giỏi thì mới có trò giỏi, có một nền đại học tốt, thì mới có nền trung học tốt và nền tiểu học tốt, và trong đời sống hàng ngày của một xã hội, trong mọi guồng máy của một nước, con người hay hay dở cũng ở nhà trường mà ra. Không nên và không thể đặt vấn đề nhà giáo thấp hơn vấn đề xây cất trường sở hay vấn đề tuyển sinh. Nếu số sinh viên quá nhiều, mà số luợng nhà giáo không đủ (phải dạy quá tải) và chất lượng trình độ của nhà giáo không tương xứng (có thể nói như người xưa, là “ốc chưa mang nổi mình ốc, mà đòi mang gộc cho rêu”) thì bằng cấp chẳng còn giá trị gì nữa, dù có dán cho nó một nhãn hiệu thì nó vẫn cứ là đồ dỏm.

1. Trước tiên là một số người trong nước đã hiểu sai về vai trò của người giáo sư đại học (tôi gọi gộp trong từ “giáo sư”, cả cái gọi là phó giáo sư (PGS) mà tôi sẽ sẽ nói thêm dưới đây). Đây là một “chức vụ”, gắn liền với một cơ sở đại học, gồm nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu, hướng dẫn nghiên cứu và điều hành các công việc khoa học liên quan đến chuyên môn của một ngành, một bộ môn. Trong một xã hội trên đà phát triển, nhu cầu cần giải đáp, hoặc để dự đoán trước, các vấn đề nảy sinh, buộc phải có việc nghiên cứu và « đào tạo qua nghiên cứu ». Cũng vì thế mà người giáo sư đại học phải đồng thời là nhà nghiên cứu. Chức vụ là như vậy, nó gắn với nhu cầu của xã hội. Cho nên quan niệm giáo sư đại học như là một “hàm” hay một “danh hiệu” cao quí mà Nhà nước phong thưởng cho những cá nhân xuất sắc vì những công trình cá nhân của họ, là một quan niệm không có cơ sở khoa học, điều mà tôi đã phát biểu từ nhiều năm nay (1). Nếu tôi đề cập trước tiên đến loại nhà giáo này, là vì theo tôi, lẽ ra đây phải là đội ngũ nhà giáo cơ hữu duy nhất của đại học, cạnh đó còn có những nhà giáo khác như giảng viên, thỉnh giảng, vv. Vì giáo dục đại học mang tính đặc biệt như vậy, nên nhà giáo đại học không thể và không nên là những nhà giáo mà có người gọi là nhà giáo của “phổ thông cấp 4”. Tuy nhiên, vì thực tế đã để lại cho hiện tại một tình trạng trót như vậy rồi, nếu tiến hành cải tổ ngay từ bây giờ, thì cũng phải mấy chục năm nữa mới hoàn tất; nếu để chậm thì không biết đến bao giờ!

Continue reading

ỨNG XỬ VỚI KHÁC BIỆT/ NGƯỜI “KHÁC LẠ”: Quan điểm của cộng đồng dân tộc thiểu số về người có xu hướng tính dục và bản dạng giới thiểu số

ĐỖ QUỲNH ANH, TRẦN NGỌC LINH & HOÀNG NGỌC AN

Cách tiếp cận của nghiên cứu

Khái niệm về “căn tính” trong Nhân học

Các nhóm phân loại con người theo các đặc tính (traits) và căn tính (identities) không được tạo ra bởi tự nhiên mà được con người tạo ra để đơn giản hóa sự phức tạp trong sự đa căn tính (multiple identities) của con người và trong các hiện thực đa chiều (multiple realities)5. Trong một thảo luận về sự hạn chế của chủ nghĩa kiến tạo xã hội (social constructionism), Epstein (1987) cho rằng ‘căn tính’ được xác định trong mối quan hệ giữa cá nhân với toàn thể xã hội, là kết quả của quá trình liên tục tìm kiếm ‘căn tính’ nhằm tìm kiếm một sự liên hệ giữa cá nhân với đám đông và chính danh hóa (legitimate) vị thế của họ trong xã hội. Epstein đã tổng kết hai cách định nghĩa về căn tính: một cách giải thích nhìn nhận căn tính như là bản chất (essential) của con người, do đó thuộc về nội tâm (intrapsychic); cách còn lại theo luận điểm của chủ nghĩa kiến tạo xã hội cho rằng căn tính là các nhãn (labels) hoặc vai trò (roles) được ‘tập nhiễm’ (acquired) vào mỗi cá nhân. Cách hiểu căn tính thuộc về nội tâm coi căn tính như một đặc tính cố định và bền vững của một người, mô tả bản chất thật sự của con người. Trong khi đó, định nghĩa còn lại cho rằng căn tính là sự nhập tâm (internalization) hoặc tiếp nhận có ý thức các nhãn và vai trò đã được áp đặt hoặc xây dựng trong quá trình xã hội hóa.

Continue reading

VIETNAM CONTEXT ANALYSIS REPORT ON HUMAN RIGHTS AND HEALTH SITUATION OF VIETNAMESE LGBT COMMUNITY AND MSM/TG (2017)

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ISEE, ICS & HẢI ĐĂNG

Relevant economic situation related to LGBT, economic and employment situation of LGBT, and economical context factors that play a role in the status quo / change in this situation

Starting in 1986, Vietnam gradually shifted from a centrally planned system to a socialist market economy. According to the World Bank, Vietnam is the second largest recipient of remittances in Southeast Asia, with $11 billion. Vietnam has been one of the two world leaders of rice exporter for a long time. Vietnam’s leading export manufactured product since 2013 has been electronics. Foreign technology company have contributed a significant percentage to GDP of Vietnam, Samsung on itself contributing for than 20% total export of Viet Nam. Young people, including LGBT people, tend to move and work in major cities like Ho Chi Minh or Hanoi which created a very high density of population in these cities.

Relevant social situation related to LGBT, and social context factors that play a role in the status quo / change in this situation

Vietnam has a young population of which number of people of working age (between 15-64) make up two thirds (69%) of the population. Vietnamese traditional values are strongly influenced by Confucius and Taoist ideologies, although most Vietnamese do not call it by name. The major religion of Vietnam is Buddhism (7.9%), but most of the population are atheist (81.8%) which makes Vietnam one of the most non-religious country in the world.6 However, the Vietnamese culture has mixed its religious with traditional spirit worship and folk practices. Many scholars also suggest old widespread patterns of cross-gender spirit mediums in Vietnam, such as “hau dong” (spirit worshiping) where people with mixed spirit of men and women are considered be able to communicate with the gods.

Continue reading

ĐƠN KÊU CỨU CỦA BA HUÂN TỪ GÓC NHÌN ĐA CHIỀU

 NGUYỄN THÙY DƯƠNG & NGUYỄN THỊ DIỆU THẢO – Văn phòng Luật sư NHQuang và Cộng sự

Gần đây, các phương tiện truyền thông liên tiếp đưa tin về sự kiện chấm dứt hợp tác giữa Công ty Ba Huân và Quỹ đầu tư VinaCapital. Tuy nhiên, bài viết này không bàn về khía cạnh pháp lý của tranh chấp hợp đồng giữa Công ty Ba Huân và VinaCapital mà thay vào đó sẽ phân tích lý do và những hệ quả của việc gửi đơn kêu cứu trong vụ việc Công ty Ba Huân nói riêng và những trường hợp doanh nghiệp gửi đơn kêu cứu nói chung. Cần lưu ý rằng các dữ kiện được tiết lộ qua thông tin báo chí về tranh chấp giữa Công ty Ba Huân và VinaCapital hiện nay chưa đủ để khẳng định ai đúng ai sai trong vụ việc này.

Căn nguyên của việc gửi đơn kêu cứu

Việc Công ty Ba Huân gửi đơn kêu cứu tới Thủ tướng Chính phủ khiến các tác giả nhớ tới một thuật ngữ vui là “đơn hươu cao cổ”. Thuật ngữ này được sử dụng bởi một số cán bộ trong cơ quan Nhà nước để chỉ những đơn kêu cứu với danh sách kính gửi đôi khi dài đến cả một trang giấy, kính gửi từ Thủ tướng Chính phủ đến các Bộ trưởng, từ Quốc hội đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Xét về khía cạnh pháp lý, “đơn kêu cứu” của doanh nghiệp không thuộc bất kỳ một biện pháp giải quyết tranh chấp hay vướng mắc chính thống nào. Nếu là tranh chấp thương mại như vụ việc của Công ty Ba Huân thì thông thường con đường giải quyết tranh chấp sẽ là thương lượng. Nếu thương lượng không thành công thì các bên sẽ lựa chọn trọng tài hoặc khởi kiện ra toà (tuỳ thoả thuận) và khi đó sẽ có “đơn khởi kiện”. Nếu là vướng mắc giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước thì khi đó doanh nghiệp có thể lựa chọn khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện hành chính, tương ứng sẽ có “đơn khiếu nại”, “đơn tố cáo” hay “đơn khởi kiện”. Lưu ý rằng những dạng thức đơn này đều được quy định trong hệ thống pháp luật với các quy định cụ thể từ nội dung đơn, chủ thể tiếp nhận đơn đến quy trình thụ lý và giải quyết… Trái ngược với các hình thức đơn chính thống, “đơn kêu cứu” không được ghi nhận trong bất kỳ văn bản pháp luật nào nhưng lại đang xuất hiện từng ngày, từng giờ và trong mọi lĩnh vực. Điều này là do đâu?.

Continue reading

CHỦ NGHĨA TƯ BẢN THÂN HỮU VÀ QUYỀN BẢO VỆ TÀI SẢN CỦA NGƯỜI GIÀU

TRẦN LỆ THÙY

Giá sách của Học viện Chính trị Quốc gia
Không phải ngẫu nhiên mà cuốn “Tại sao các quốc gia thất bại” của hai giáo sư trường đại học Harvard Acemoglu và Robinson lại nằm trang trọng trên giá sách thư viện Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, bên cạnh các tên tuổi như nhà kinh tế được giải Nobel Joseph Stiglitz. Cuốn sách này nổi tiếng vì giải thích rằng các nước mãi nghèo là do bị một nhóm nhỏ giàu có và quyền thế thao túng cho lợi ích riêng của mình, bằng cách hy sinh lợi ích của công chúng.

Năm 2017, Việt Nam được dự đoán sẽ có số người siêu giàu tăng nhanh nhất thế giới trong thập kỷ tới. Đồng thời, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng ban hành Nghị quyết số 10 về phát triển kinh tế tư nhân, nhấn mạnh việc “xuất hiện những quan hệ không lành mạnh giữa các doanh nghiệp của tư nhân và cơ quan quản lý nhà nước, can thiệp vào quá trình xây dựng, thực thi chính sách để có đặc quyền, đặc lợi, hình thành lợi ích nhóm, gây hậu quả xấu về kinh tế-xã hội, làm suy giảm lòng tin của nhân dân”.

Câu hỏi ở đây không phải là việc có cần xóa bỏ nhóm người giàu và quyền thế hay không, mà là làm thế nào để kiềm chế và giảm được lợi ích nhỏ hẹp có thể gây hại đến lợi ích chung.

Continue reading

NHỮNG TỪ KHÓA THỜI THƯỢNG

 PIERRE DARRIULAT (Phạm Ngọc Điệp dịch)

Khoảng hai mươi năm trước, người ta thường nhắc đến bền vững; mọi thứ phải sao cho bền vững. Năm ngoái, ta thường nghe Cách mạng 4.0 và Internet of things (Vạn vật kết nối Internet). Năm nay chúng ta cũng có nhiều từ khóa mới: sáng tạo, đổi mới, và khởi nghiệp… Thói quen sử dụng những ngôn từ có tính thời thượng dĩ nhiên là mốt thôi chứ chúng chẳng có tác động gì đến ý nghĩa sâu xa của từ ngữ, thậm chí thuần túy là cơ hội cho một vài người nào đó làm kinh doanh.

Với đổi mới và sáng tạo cũng vậy. Chẳng phải đến bây giờ chúng ta mới đổi mới và sáng tạo, loài người vốn không ngừng đổi mới và sáng tạo một cách ngoạn mục từ hàng triệu năm nay đấy thôi.

Thế mà gần đây ở các đại học, cả công và tư, người ta tạo ra nhiều chương trình học mới: trước đây là những chương trình thạc sĩ về quản lý và tiếp thị, ngày nay lại đang nở rộ thạc sĩ về đổi mới và sáng tạo trong quản lý. Chúng ta thừa hiểu những phẩm chất của một người lãnh đạo tốt không phải là những thứ có thể học được ở trường lớp; đó là năng lực và sự chính trực trong nhân cách và hành xử, ở mức độ khiến những người mà bạn quản lý hoặc lãnh đạo nể phục và kính trọng. Điều ấy có được vì sự công tâm, phẩm chất đạo đức và tri thức, tính nhân văn và tinh thần cống hiến của bạn cho sự nghiệp mà bạn đang phụng sự, chứ không phải bởi bạn đã từng tham gia khóa học thạc sĩ về quản lý, lãnh đạo, sáng tạo và đổi mới nào đó. Trước đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh hay đại tướng Võ Nguyên Giáp đâu cần phải tham gia những khóa học kiểu như vậy. Nhưng ngày nay, khoa học chính trị cũng không tránh khỏi chạy theo xu hướng thời thượng, với một số tài liệu1 mới xuất bản gần đây như Hồ Chí Minh: sáng tạo, đổi mới do Bùi Đình Phong hoặc Tư tưởng Hồ Chí Minh về “lãnh đạo thông minh” do Nguyễn Hữu Đông xuất bản.

Continue reading

BONG BÓNG ĐẠI HỌC

 CAMERON SHINGLETON – Giảng viên đại học

Nền kinh tế thị trường lâu lâu lại có một quả “bong bóng”. Nếu như cách đây tròn 10 năm có khủng hoảng tài chính thế giới do bong bóng tài sản thì vài năm sau, ở Việt Nam tôi được chứng kiến bong bóng kế toán viên.

Khuê, bạn tôi, một cô gái lớn lên ở Bình Phước, học giỏi, có năng khiếu vẽ và chụp ảnh. Nhưng Khuê lại quyết định đăng ký vào khoa kế toán một trường đại học dân lập ở TP HCM vì mẹ cô bảo “Việt Nam sẽ thiếu kế toán”. Khuê và các bạn cùng nắm tay nhau đi học kế toán.

Quyết định hơi hấp tấp mang lại kết quả không tốt đẹp lắm. Khuê không mấy hứng thú với nghề kế toán, cũng không có nhiều chỗ tuyển dụng khi cô ra trường vì quá nhiều người đang cầm bằng kế toán trên tay. Rồi Khuê cũng xin được vào một công ty nhỏ, vừa làm thu ngân, vừa điều phối nhân viên giao hàng. Lương thấp, công việc vừa chán vừa căng thẳng, cô vay tiền ngân hàng mở quán cà phê khi mà số nợ mượn trước đó để học đại học còn chưa trả.

Đến giờ Khuê cũng không biết phải làm gì để trả hết nợ, và cũng chẳng biết kiến thức nào ở trường đại học cần cho việc tính toán đơn đặt mua cà phê và kiểm soát các khoản chi phí lặt vặt của quán. Các bạn của Khuê cũng không khá hơn, nhiều người ôm bằng kế toán sang làm ngành phục vụ, người về quê lấy chồng.

Continue reading

KINH TẾ TRI THỨC VÀ CON ĐƯỜNG HỘI NHẬP CỦA CHÚNG TA

GS. PHAN ĐÌNH DIỆUĐại học Quốc gia Hà nội

Sinh thời, Norbert Wiener, cha đẻ của Điều khiển học (Cybernetics) đã dự báo: “Chúng ta đang làm biến đổi môi trường của ta tận gốc rễ đến mức rồi ta phải tự biến  đổi chính mình để tồn tại được trong môi trường mới đó[1]. Quả thực, mấy chục năm qua, dưới tác động của những tiến bộ vũ bão của khoa học và công nghệ, mà nổi bật là công nghệ thông tin, môi trường kinh tế và xã hội đang có những biến đổi căn bản, đang chuyển biến tới một môi trường kinh tế và xã hội về cơ bản là mới, mà ta bắt đầu gọi là kinh tế tri thức và xã hội tri thức. Con người tạo ra môi trường đó, nhưng rồi đến lượt mình, chính sự phát triển khách quan của môi trường đó, với tất cả tính phức tạp, bất định và thường xuyên biến động của mình, lại đòi hỏi con người phải tự biến đổi để có được cách nhìn mới, cách nghĩ mới, nhiều năng lực trí tuệ mới khác về chất so với các năng lực cũ, nhằm giúp mình thích nghi với môi trường mới, có khả năng hành động linh hoạt trong cái phức tạp, bất định và thường xuyên biến động đó của môi trường mới.

I. Những chuyển biến hướng tới kinh tế và xã hội tri thức

1. Một môi trường đang thay đổi nhanh chóng

  Trong thế kỷ 20, khoa học và công nghệ đã liên tục phát triển mạnh mẽ với nhiều thành tựu có ý nghĩa cách mạng trong khắp các lĩnh vực, và càng ngày càng dồn dập, để đi đến những thập niên cuối của thế kỷ góp phần chủ đạo tạo nên bước chuyển biến mới của nền kinh tế và xã hội trên phạm vi toàn thế giới.  Những thành tựu khoa học to lớn đó  đã cung cấp cho con người những nhận thức hoàn toàn mới về thế giới vật chất, về sự sống, và đặc biệt về chính hệ thống kinh tế và xã hội của loài người; đã làm cơ sở cho hàng loạt những phát minh công nghệ kỳ diệu đưa đến những cải tiến và đổi mới liên tục nền sản xuất của xã hội; và những cải cách cơ cấu tổ chức, phương thức quản lý, những phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường trong từng quốc gia cũng như trên phạm vi toàn cầu.

Continue reading

LÀM THẾ NÀO ĐỂ CẢM THẤY “ĐỦ” TRONG CUỘC SỐNG

ELLE TEAM Lược dịch: Mia Thủy Tiên (Tạp chí Phái đẹp ELLE/ First Women)

Liên tục chạy theo và đáp ứng những ham muốn, tham vọng trong cuộc sống, con người dường như đánh mất đi hạnh phúc của mình. “Như thế nào là đủ?” là một câu hỏi khó có được câu trả lời chính xác.

“Tôi đã đủ hạnh phúc chưa?” hoặc có thể rút gọn thành “Tôi đã cảm thấy đủ với cuộc sống hiện tại chưa?”.

Cân đo đong đếm cảm xúc giống như việc xác định trọng lượng của đại dương hay liệt kê những thứ trên đời mà loài mèo ghét bỏ vậy. Đơn giản đây là chuyện không thể.

Vẫn câu hỏi đó “Bao nhiêu là đủ?”.

Có lẽ các nhà tiếp thị đã nhìn ra được sự tuyệt vọng trong câu hỏi khó tìm được câu trả lời này. Thế nên, họ đã lồng vào những mẩu quảng cáo lời hứa hẹn “Chỉ cần bạn có…, là đủ…”.

“Chỉ cần uống thuốc giảm cân Slimfat là đủ để bạn sở hữu thân hình cân đối”.

“Chỉ cần sử dụng xe Jeep là đủ cho một chuyến khám phá”.

“Chỉ cần mang giày Nike là đủ trở thành vận động viên điền kinh”.

“Chỉ cần tham gia vào công ty môi giới Scottrade là đủ để trở nên giàu có”.

Continue reading