THẨM QUYỀN THEO LÃNH THỔ CỦA TÒA ÁN NƠI BỊ ĐƠN CƯ TRÚ

THS.NCS. NGUYỄN TRƯƠNG TÍN – Khoa Luật Dân sự, Đại học Luật TP.HCM

Ông Dư khởi kiện bà Hương ra Tòa án nhân dân (TAND) quận Tây Hồ, Tp Hà Nội để tranh chấp đòi tài sản. Bà Hương có đăng ký hộ khẩu thường trú (HKTT) tại quận Hai Bà Trưng và tạm trú tại quận Tây Hồ.

Khi giải quyết vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) đã xét rằng: “Trong trường hợp này, nơi đăng ký hộ khẩu và nơi tạm trú của bà Hương có địa chỉ khác nhau. Theo Điều 12 Luật Cư trú năm 2006 thì: “Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc tạm trú” và trong thực tế tại thời điểm khởi kiện, bà Hương đã và đang đăng ký hộ khẩu thường trú tại quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội, nên TAND quận Hai Bà Trưng thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) và không làm hạn chế đến quyền và nghĩa vụ của đương sự. Do đó, Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao tại Hà Nội nhận định tại thời điểm khởi kiện, bà Hương thường xuyên sinh sống và tạm trú tại quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội để hủy Bản án sơ thẩm và Bản án phúc thẩm là không cần thiết”[1].

BÌNH LUẬN

Nơi cư trú của bị đơn là một căn cứ để xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự. Cụ thể, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015 quy định: “Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định: Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự…”. Trước đây, điểm a khoản 1 Điều 35 BLTTDS năm 2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011) cũng có quy định tương tự như nội dung vừa nêu.

Continue reading