CHỦ NGHĨA TƯ BẢN THÂN HỮU VÀ QUYỀN BẢO VỆ TÀI SẢN CỦA NGƯỜI GIÀU

TRẦN LỆ THÙY

Giá sách của Học viện Chính trị Quốc gia
Không phải ngẫu nhiên mà cuốn “Tại sao các quốc gia thất bại” của hai giáo sư trường đại học Harvard Acemoglu và Robinson lại nằm trang trọng trên giá sách thư viện Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, bên cạnh các tên tuổi như nhà kinh tế được giải Nobel Joseph Stiglitz. Cuốn sách này nổi tiếng vì giải thích rằng các nước mãi nghèo là do bị một nhóm nhỏ giàu có và quyền thế thao túng cho lợi ích riêng của mình, bằng cách hy sinh lợi ích của công chúng.

Năm 2017, Việt Nam được dự đoán sẽ có số người siêu giàu tăng nhanh nhất thế giới trong thập kỷ tới. Đồng thời, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng ban hành Nghị quyết số 10 về phát triển kinh tế tư nhân, nhấn mạnh việc “xuất hiện những quan hệ không lành mạnh giữa các doanh nghiệp của tư nhân và cơ quan quản lý nhà nước, can thiệp vào quá trình xây dựng, thực thi chính sách để có đặc quyền, đặc lợi, hình thành lợi ích nhóm, gây hậu quả xấu về kinh tế-xã hội, làm suy giảm lòng tin của nhân dân”.

Câu hỏi ở đây không phải là việc có cần xóa bỏ nhóm người giàu và quyền thế hay không, mà là làm thế nào để kiềm chế và giảm được lợi ích nhỏ hẹp có thể gây hại đến lợi ích chung.

Continue reading

SO SÁNH CHẾ ĐỊNH BẢO LÃNH TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 VÀ PHÁP LUẬT DÂN SỰ CỘNG HÒA PHÁP

TS. ĐOÀN THỊ PHƯƠNG DIỆP & TS. DƯƠNG KIM THẾ NGUYÊN

1. Khái niệm bảo lãnh trong luật Việt Nam và pháp luật Pháp

1.1 Khái niệm bảo lãnh

Bảo lãnh được định nghĩa là “Các thoả thuận mà theo đó, một người có nghĩa vụ bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của một người khác đối với người thứ ba”[1]. Như vậy, bảo lãnh làm hình thành nên một loại nghĩa vụ dân sự. Nghĩa vụ, theo định nghĩa tại Điều 274 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015 (BLDS 2015), “là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)”. Từ nghĩa vụ bảo lãnh có thể sẽ là cơ sở để làm phát sinh các nghĩa vụ khác, ví dụ, nghĩa vụ hoàn lại giữa những người đồng bảo lãnh cho người bảo lãnh đã hoàn tất nghĩa vụ, hay nghĩa vụ hoàn trả của người được bảo lãnh với người bảo lãnh đã hoàn tất nghĩa vụ bảo lãnh. Nghĩa vụ bảo lãnh là loại nghĩa vụ có điều kiện theo cách quy định của BLDS 2015 hiện hành[2].

Điều 335 BLDS 2015 định nghĩa: “Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”.

Nếu chỉ nhìn thoáng qua, khái niệm bảo lãnh này không khác nhiều so với quy định tương tự trong BLDS Pháp (Điều 2288)[3], cụ thể BLDS Pháp quy định “Bên bảo lãnh cho một nghĩa vụ chịu trách nhiệm trước chủ nợ về việc thực hiện nghĩa vụ nếu bên mắc nợ không tự mình thực hiện nghĩa vụ”.

Continue reading