NHỮNG TỪ KHÓA THỜI THƯỢNG

 PIERRE DARRIULAT (Phạm Ngọc Điệp dịch)

Khoảng hai mươi năm trước, người ta thường nhắc đến bền vững; mọi thứ phải sao cho bền vững. Năm ngoái, ta thường nghe Cách mạng 4.0 và Internet of things (Vạn vật kết nối Internet). Năm nay chúng ta cũng có nhiều từ khóa mới: sáng tạo, đổi mới, và khởi nghiệp… Thói quen sử dụng những ngôn từ có tính thời thượng dĩ nhiên là mốt thôi chứ chúng chẳng có tác động gì đến ý nghĩa sâu xa của từ ngữ, thậm chí thuần túy là cơ hội cho một vài người nào đó làm kinh doanh.

Với đổi mới và sáng tạo cũng vậy. Chẳng phải đến bây giờ chúng ta mới đổi mới và sáng tạo, loài người vốn không ngừng đổi mới và sáng tạo một cách ngoạn mục từ hàng triệu năm nay đấy thôi.

Thế mà gần đây ở các đại học, cả công và tư, người ta tạo ra nhiều chương trình học mới: trước đây là những chương trình thạc sĩ về quản lý và tiếp thị, ngày nay lại đang nở rộ thạc sĩ về đổi mới và sáng tạo trong quản lý. Chúng ta thừa hiểu những phẩm chất của một người lãnh đạo tốt không phải là những thứ có thể học được ở trường lớp; đó là năng lực và sự chính trực trong nhân cách và hành xử, ở mức độ khiến những người mà bạn quản lý hoặc lãnh đạo nể phục và kính trọng. Điều ấy có được vì sự công tâm, phẩm chất đạo đức và tri thức, tính nhân văn và tinh thần cống hiến của bạn cho sự nghiệp mà bạn đang phụng sự, chứ không phải bởi bạn đã từng tham gia khóa học thạc sĩ về quản lý, lãnh đạo, sáng tạo và đổi mới nào đó. Trước đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh hay đại tướng Võ Nguyên Giáp đâu cần phải tham gia những khóa học kiểu như vậy. Nhưng ngày nay, khoa học chính trị cũng không tránh khỏi chạy theo xu hướng thời thượng, với một số tài liệu1 mới xuất bản gần đây như Hồ Chí Minh: sáng tạo, đổi mới do Bùi Đình Phong hoặc Tư tưởng Hồ Chí Minh về “lãnh đạo thông minh” do Nguyễn Hữu Đông xuất bản.

Continue reading

NHẬN DẠNG LỢI ÍCH GẮN LIỀN VỚI NGHĨA VỤ TRONG QUAN HỆ KẾT ƯỚC – KINH NGHIỆM CỦA ANH VÀ PHÁP

PGS.TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN – Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh

1. Dẫn nhập

Trong tư thế bình đẳng và với ý thức tự nguyện, bên giao kết hợp đồng tham gia vào quan hệ kết ước trong khuôn khổ tìm kiếm một hoặc nhiều lợi ích nào đó. Việc nhận dạng, xác định bản chất của lợi ích mà bên kết ước theo đuổi được người làm luật coi là một trong những căn cứ để đánh giá chất lượng của quan hệ kết ước được xác lập, từ đó, có thái độ phù hợp trong việc điều chỉnh quan hệ ấy bằng luật. Một hợp đồng được giao kết nhằm tìm kiếm các lợi ích trái pháp luật, phi đạo đức không xứng đáng được hưởng sự bảo đảm thi hành bằng sức mạnh của luật pháp, công lực.

Tuy nhiên, tìm hiểu ý chí nội tâm của bên kết ước, xem họ mong muốn gì khi xác lập một giao kèo, là việc không đơn giản, nếu không muốn nói là rất khó. Vào thời La Mã cổ đại, người làm luật cũng như thẩm phán không quan tâm đến chuyện tìm hiểu căn cơ đích thực của nghĩa vụ, đặc biệt là nghĩa vụ có nguồn gốc từ hợp đồng1: chỉ cần được xác lập phù hợp với các quy định của pháp luật, thì hợp đồng có hiệu lực ràng buộc; người ta không cần biết vì lý do gì hợp đồng được giao kết.

Đến thời Trung Cổ, luật giáo hội mới bắt đầu cân nhắc việc sàng lọc, phân loại các cam kết dựa theo ý chí của bên kết ước. Trong điều kiện việc xác định ý chí nội tâm gặp khó khăn, người làm luật chủ trương tìm kiếm các yếu tố được cho là sự bộc lộ, là biểu hiện bề ngoài của ý chí đó. Có hai yếu tố chính được ghi nhận: tính liên kết giữa các nghĩa vụ và động cơ xác lập nghĩa vụ. Tư tưởng chủ đạo là một mặt, một bên không phải giữ lời hứa của mình nếu bên kia không giữ lời hứa của họ; mặt khác, mục tiêu của việc xác lập quan hệ kết ước phải phù hợp với đạo đức. Nhiều quy tắc đã được xây dựng từ tư tưởng đó, cho phép vô hiệu hoá các hợp đồng bất bình đẳng hoặc được giao kết nhằm mục đích bất chính, phi đạo đức, như hợp đồng để giết người, cướp của, lừa lọc, mua bán đồ cấm,…

Continue reading