THỪA PHÁT LẠI – THÔNG TIN PHÁP LÝ ĐẢM BẢO

Thời gian qua, trong thi hành án dân sự, đã có những việc không xác định được hoặc còn hiểu không thống nhất về sự kiện, thời điểm người có nghĩa vụ thi hành nhận hay chưa nhận được bản án, quyết định của Tòa án; có hay không có đơn yêu cầu thi hành án… Civillawinfor trân trọng giới thiệu tham luận này để tìm hiểu thêm một trong các phương thức hạn chế bất cập nêu trên.

BERNARD MENUT – Chủ tịch Hội đồng Thừa phát lại Quốc gia Cộng Hòa Pháp

Phương thức bảo đảm an toàn thông tin cho các bên khiếu kiện

Trong buổi làm việc hôm nay, trước hết tôi sẽ trình bày với các quý vị các phương thức được áp dụng ở Pháp để bảo đảm an toàn thông tin cho các bên khiếu kiện. Trên thực tế việc bảo đảm an toàn các thông tin là rất cần thiết vì hai lý do: (i) Tôn trọng quyền được bào chữa và (ii) Tôn tọng quyền được bảo đảm an toàn thông tin. Sau đó chúng ta sẽ xem xét đến các trường hợp cụ thể về các phương thức mà chúng tôi sẽ áp dụng ở Pháp để cung cấp thông tin cho các ben đương sự.

Việc cung cấp thông tin cho các bên đương sự do Thừa phát lại đảm nhận. Chúng tôi gọi việc cung cấp thông tin này của Thừa phát lại là việc tống đạt. Đôi khi tống đạt có thể thực hiện bằng thư bảo đảm, nhưng để đạt được hiệu quả, các bên khiếu kiện cần có sự hỗ trợ của Thừa phát lại, vì thư bảo đảm cũng có nhiều bất lợi.

Trước hết, bên bị thi hành án cần phải được thông tin về quyết định của Tòa. Chính vì thế bản án của Tòa phải được trao cho đương sự sớm nhất có thể, đặc biệt trong việc xét xử vắng mặt. Việc tống đạt sớm tạo điều kiện cho người bị thi hành án có thể thực hiện được quyền kháng án của mình. Việc tống đạt nhanh chóng có thể tránh được hiện tượng bên thắng kiện có thể lợi dụng thời gian để cho bên bị thua kiện không đủ thời gian thu thập bằng chứng để kháng án. Tóm lại, người được tống đạt phải được cung cấp thông tin đầy đủ và nhanh chóng.

Continue reading →

ĐÀM PHÁN VỚI MÃ LỆNH: HỢP ĐỒNG THÔNG MINH VÀ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CÒN BỎ NGỎ

VŨ THỊ DIỆU THẢO

Hợp đồng thông minh được thực hiện hoàn toàn trên môi trường mạng, do đó việc xác định hệ thống pháp luật điều chỉnh hoặc lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp cũng là một vấn đề rất đáng quan tâm.

Xung đột pháp luật – Câu đố chưa có lời giải

Có thể thấy rằng, việc xác định biên giới mạng, phạm vi lãnh thổ quốc gia trên môi trường mạng đang là một câu hỏi hóc búa. Hơn nữa, Hợp đồng thông minh hoạt động thông qua các nút mạng phi tập trung (decentralized node) có thể được phân bổ trên khắp thế giới, do đó, rất khó để xác định luật áp dụng hiện hành và thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Điều này cũng làm tăng rủi ro cho các bên khi giải quyết những tranh chấp phái sinh từ hợp đồng thông minh.

Đứng trước vấn đề trên, một số nhà nghiên cứu luật quốc tế đã đưa ra đề xuất xây dựng một bộ quy tắc riêng để điều chỉnh hợp đồng thông minh. Theo đó, Incochains có thể ra đời, giữ vai trò tương tự như các bản Incotermsđang được sử dụng hiện nay [1].Và trong tương lai không xa, Lex Cryptographia (tương đương với Lex Mercatoria – tập hợp các tập quán thương mại quốc tế dùng giữa các thương nhân) có thể được xây dựng với kỳ vọng là không chỉ là bộ quy tắc điều chỉnh hợp đồng thông minh mà còn có thể điều chỉnh hoạt động của các tổ chức tự trị phi tập trung (Decentralized Autonomous Organization- DAO)[2].

Continue reading →

QUY CHẾ SỐ 384/96 (CE) NGÀY 22 THÁNG 12 NĂM 1995 HỘI ĐỒNG LIÊN MINH CHÂU ÂU VỀ CHỐNG NHẬP KHẨU HÀNG HÓA BÁN PHÁ GIÁ TỪ CÁC NƯỚC NGOÀI CỘNG ĐỒNG CHÂU ÂU

Tài liệu này chỉ có ý nghĩa tham khảo

HỘI ĐỒNG LIÊN MINH CHÂU ÂU

Căn cứ Hiệp định thành lập Cộng đồng Châu Âu và đặc biệt là Điều 113 Hiệp định này,

Căn cứ các quy chế phối hợp tổ chức thị trường nông nghiệp, các quy định hướng dẫn thi hành điều 235 Hiệp định thành lập Cộng đồng Châu Âu đối với hàng hóa được chế biến từ nông sản và đặc biệt là các điều khoản miễn áp dụng nguyên tắc thay thế biện pháp ngăn chặn tại biên giới bằng biện pháp quy định tại các quy chế trên, Theo đề nghị của Ủy ban Châu Âu (1) Trên cơ sở tham khảo ý kiến của Nghị viện Châu Âu (2) (1) Xét thấy rằng theo quy chế số 2423/88 (CEE) (3), Hội đồng Liên minh Châu Âu đã thiết lập một cơ chế chung chống nhập khẩu hàng hóa bán phá giá hoặc hàng hóa được trợ giá từ các nước ngoài Cộng đồng Châu Âu;

(2) Xét thấy rằng việc thiết lập cơ chế này hoàn toàn phù hợp với các nghĩa vụ quốc tế hiện tại, đặc biệt là các nghĩa vụ xuất phát từ điều VI Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu dịch (sau đây gọi tắt là "GATT"), từ Hiệp định về thi hành điều VI GATT (Bộ luật chống bán phá giá năm 1979) và từ Hiệp định hướng dẫn thi hành các điều VI, XVI và XXIII GATT (Bộ luật về trợ cấp và thuế đối kháng);

(3) Xét thấy rằng trên nền tảng của các thỏa thuận thương mại đa phương ký kết năm 1994, nhiều hiệp định mới về thi hành điều VI GATT đã được xây dựng, do vậy, cần phải sửa đổi các quy định của Cộng đồng Châu Âu sao cho phù hợp với các hiệp định mới; đồng thời, do sự khác biệt về mặt bản chất giữa các quy định mới về hành vi bán phá giá và hành vi trợ giá, Cộng đồng cần phải xây dựng những quy định riêng về bán phá giá và trợ giá cũng như quy chế riêng về chống trợ giá và về thuế đối kháng;

Continue reading →

VỀ THÔNG BÁO TRÊN PHƯƠNG TIỆN THÔNG TIN ĐẠI CHÚNG VÀ THÔNG BÁO CÁC VĂN BẢN KHÁC TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

THS. ĐINH DUY BẰNG & THS. HOÀNG THỊ THANH HOA

Hoạt động thi hành án dân sự ở nước ta trong những năm vừa qua có nhiều tiến bộ vượt bậc đáng ghi nhận trong mọi mặt hoạt động, trong đó có hoạt động ban hành quy phạm pháp luật về thông báo thi hành án dân sự. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự ngày càng hoàn thiện, tạo nhiều thuận lợi cho công tác thi hành án dân sự, trong đó các quy định về thông báo thi hành án đã cụ thể, rõ ràng hơn, góp phần đảm bảo cho cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên thực hiện tốt nhiệm vụ thông báo của mình.

Thông báo trong thi hành án dân sự là việc cơ quan thi hành án dân sự gửi các “Quyết định về thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập và văn bản khác có liên quan đến việc thi hành án, … cho đương sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ theo nội dung của văn bản đó”[1]. Luật Thi hành án dân sự đã dành 05 điều luật (từ Điều 39 đến Điều 43) quy định về vấn đề thông báo thi hành án dân sự, đồng thời Điều 12 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự (Nghị định số 62/2015/NĐ-CP) và Điều 2 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC. Điều này thể hiện tầm quan trọng của công việc thông báo trong thi hành án dân sự.

Việc quy định chặt chẽ về đối tượng, trình tự, thủ tục thông báo không chỉ đảm bảo cho thông tin đến được với đương sự, người liên quan[2] mà còn có tầm quan trọng trong việc đảm bảo trình tự thủ tục thi hành án theo đúng quy định của pháp luật.

Continue reading →

BÁO CÁO RÀ SOÁT ĐIỀU KIỆN KINH DOANH VÀ QUYỀN TỰ DO KINH DOANH Ở VIỆT NAM

VCCI – “Quyền tự do kinh doanh” lần đầu tiên được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992 và tiếp tục được tái khẳng định theo hướng rộng hơn trong Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”. Quy định này thể hiện sự cởi mở và khuyến khích của Nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh của người dân, doanh nghiệp. Đây cũng là tiền đề quan trọng để thay đổi về tư duy quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh. Và thực tế, hệ thống pháp luật kinh doanh của nước ta trong vài năm gần đây đã có những chuyển mình mạnh mẽ, theo hướng tích cực, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp…

Tuy nhiên, bên cạnh những chuyển mình theo hướng tích cực trên, thì trong hệ thống pháp luật vẫn còn chứa đựng nhiều “rào cản” khiến cho việc hiện thực hóa “quyền tự do kinh doanh” gặp nhiều thách thức.

Báo cáo này được xây dựng dựa trên nghiên cứu, đánh giá của Nhóm nghiên cứu (không thể hiện quan điểm chính thức của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam) và ý kiến phản ánh của doanh nghiệp, hiệp hội trong quá trình góp ý xây dựng các chính sách có liên quan. Kết cấu của Báo cáo gồm hai phần lớn:

• Phần I: Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện – Nhận diện và Kiến nghị.

• Phần II: Điều kiện kinh doanh một số ngành, nghề thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Công Thương, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Khoa học và Công nghệ – Nhận diện và Kiến nghị.

TRA CỨU TOÀN VĂN BÁO CÁO TẠI ĐÂY

SOURCE: Vibonline.com.vn – WEBSITE XÂY DỰNG PHÁP LUẬT CỦA VCCI

QUYỂN IV. BỘ LUẬT DÂN SỰ CỘNG HÒA PHÁP – CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM NGHĨA VỤ

Quyển IV. BỘ LUẬT DÂN SỰ CỘNG HÒA PHÁP

CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM NGHĨA VỤ

Điều 2284. Người nào bị ràng buộc vào một nghĩa vụ cá nhân thì phải thực hiện nghĩa vụ đó bằng tất cả tài sản của mình, bao gồm động sản và bất động sản, hiện có và sẽ có trong tương lai.

Điều 2285. Tài sản của người có nghĩa vụ là đảm bảo chung cho những người có quyền; giá trị tài sản được phân chia cho những người có quyền theo tỷ lệ của các nghĩa vụ, trừ trường hợp họ có lý do chính đáng để được ưu tiên.

Điều 2286. Những người sau đây được quyền cầm giữ tài sản : 1° Người đã được giao giữ tài sản cho đến khi khoản nợ của mình được thanh toán ; 2° Người có khoản nợ chưa thanh toán theo một hợp đồng có quy định buộc giao tài sản ; 3° Người có khoản nợ chưa thanh toán được xác lập khi đang giữ tài sản ; 4° Người được hưởng một biện pháp bảo đảm mà không làm mất quyền sở hữu. Quyền cầm giữ tài sản chấm dứt khi người cầm giữ tự nguyện từ chối quyền của mình.

Điều 2287. Quy định tại Quyển này không cản trở việc áp dụng các quy định cho trường hợp mở thủ tục cứu vãn, phục hồi hoặc thanh lý doanh nghiệp theo quyết định của Toà án hoặc cho các trường hợp xử lý tình trạng phá sản của các cá nhân.

Thiên 1

Các biện pháp bảo đảm đối nhân

Continue reading →

MỘT SỐ BẤT CẬP VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN NHÀ Ở HÌNH THÀNH TRONG TƯƠNG LAI

THS. NGUYỄN ĐÌNH PHONG – Giảng viên Đại học Xây dựng

NGUYỄN THU HƯƠNG – Tòa án Cấp cao tại Hà Nội

Nhà ở hình thành trong tương lai là loại hình ngày càng phổ biến ở nước ta. Mặc dù Nhà nước cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định về việc mua bán nhà ở hình thành trong tương lai. Tuy nhiên, do giao dịch này rất đa dạng nên các quy định pháp luật có nhiều điểm chưa thống nhất dẫn đến thực tiễn có nhiều bất cập, ảnh hưởng đến người tham gia quan hệ mua bán và hoạt động quản lý của các cơ quan có thẩm quyền…

Do đó, việc nghiên cứu làm rõ về việc mua bán nhà ở hình thành trong tương lai theo quy định của Luật Nhà ở, Bộ luật Dân sự, Luật Kinh doanh bất động sản và các văn bản hướng dẫn thi hành là rất cần thiết. Bài viết sau đây tác giả xin bàn về một số bất cập và đưa ra một số đề xuất sửa đổi các quy định của pháp luật nhằm đảm bảo tính đồng bộ, hiệu quả của Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai.

Nhà ở không chỉ là một loại tài sản có giá trị lớn phục vụ nhu cầu gia đình, cá nhân mà còn là yếu tố phản ánh sự phát triển của đất nước. Cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu nhà ở ngày càng tăng cao, các loại hình nhà ở ngày càng đa dạng phong phú phù hợp với nhu cầu xã hội.

Nhà ở hình thành trong tương lai là loại hình ngày càng phổ biến ở nước ta. Tính đến thời điểm hiện tại, nhà nước cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định chi tiết hơn về việc mua bán nhà ở hình thành trong tương lai. Tuy nhiên, do giao dịch này tồn tại nhiều quan điểm khác nhau nên các quy định có nhiều điểm chưa thống nhất dẫn đến thực tiễn có nhiều bất cập, nhiều cách hiểu khác nhau. Những bất cập này ảnh hưởng xấu cho những người tham gia quan hệ mua bán và hoạt động quản lý của các cơ quan có thẩm quyền.

Continue reading →

TẬP ĐỐI CHIẾU LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014

Theo yêu cầu của nhiều bạn, Civillawinfor xây dựng Tập đối chiếu Luật HNGĐ năm 2014 để các bạn tham khảo, dưới dạng:

LUẬT HNGĐ NĂM 2000

LUẬT HNGĐ NĂM 2014

Mục 3. CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG

Điều 28. Áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng

1. Vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận.

Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được thực hiện theo quy định tại các điều từ Điều 33 đến Điều 46 và từ Điều 59 đến Điều 64 của Luật này.

Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được thực hiện theo quy định tại các điều 47, 48, 49, 50 và 59 của Luật này.

2. Các quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này được áp dụng không phụ thuộc vào chế độ tài sản mà vợ chồng đã lựa chọn.

3. Chính phủ quy định chi tiết về chế độ tài sản của vợ chồng.

Nghị định số 126/2014/NĐ-CP:

Điều 7. Áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định

Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được áp dụng trong trường hợp vợ chồng không lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận hoặc có thỏa thuận về chế độ tài sản nhưng thỏa thuận này bị Tòa án tuyên bố vô hiệu theo quy định tại Điều 50 của Luật hôn nhân và gia đình.

TRA CỨU BẢN ĐẦY ĐỦ TẠI ĐÂY 

Việc đối chiếu có cập nhật, tuy nhiên không tránh khỏi sai sót, mong các bạn thông cảm. Văn bản thuộc lĩnh vực luật tư khác, Civillawinfor sẽ cố gắng thực hiện trong thời gian tới.

CÁC HÌNH THỨC PHÁP LÝ của loại hình công ty đối nhân

TS. NGUYỄN VINH HƯNG – Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

Trong lịch sử phát triển của công ty, công ty đối nhân là loại hình công ty xuất hiện sớm nhất. Loại hình công ty đối nhân thường tồn tại dưới một số hình thức như: công ty hợp danh, công ty hợp danh hữu hạn hay công ty hợp danh TNHH. Tuy nhiên, trước sức ép cạnh tranh của nền kinh tế thị trường, các công ty này gặp phải khá nhiều trở ngại. Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường, pháp luật nhiều nước đã có những điều chỉnh nhất định đối với loại hình công ty này. Tuy nhiên, ở các quốc gia khác nhau, việc quy định các hình thức pháp lý của loại hình công ty đối nhân cũng thường khác nhau.

1. Các hình thức pháp lý phổ biến của công ty đối nhân

Pháp luật hầu hết các nước đều quy định hai hình thức cơ bản của công ty đối nhân: công ty hợp danh và công ty hợp danh hữu hạn. Ngoài ra, hình thức công ty hợp danh TNHH cũng khá phổ biến tại một số nước thuộc hệ thống Common law.

1.1 Công ty hợp danh

Công ty hợp danh (general partnership, simple partnership hay ordinary partnership) là “loại công ty hình thành sớm nhất trên thế giới”[1]. Công ty này còn có khá nhiều cái tên khác như: “công ty hợp danh toàn diện, công ty hợp danh phổ thông”[2], “công ty liên danh”[3], “công ty đồng danh”[4]…

Continue reading →

TÒA ÁN TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN KHI CÓ THỎA THUẬN THỦ TỤNG THƯƠNG LƯỢNG, HÒA GIẢI BẮT BUỘC TIỀN TỐ TỤNG

PGS.TS. ĐỖ VĂN ĐẠI – Trưởng Khoa Luật Dân sự – Đại học Luật TP. HCM

Dẫn nhập

Khi có tranh chấp, các chủ thể được yêu cầu cơ quan tài phán là Tòa án hay Trọng tài giải quyết và quyền này đã được ghi trong văn bản pháp luật Việt Nam. Chẳng hạn, theo khoản 1 Điều 14 Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS), “trường hợp quyền dân sự bị xâm phạm hoặc có tranh chấp thì việc bảo vệ quyền được thực hiện theo pháp luật tố tụng tại Tòa án hoặc trọng tài”. Khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Bộ luật TTDS) cũng theo hướng vừa nêu với nội dung “cơ quan, tổ chức, cá nhân do Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác”.

Thừa nhận quyền yêu cầu cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp và thực hiện quyền đó là hai vấn đề khác nhau. Từ lâu đời, ngạn ngữ Việt Nam đã có câu “vô phúc đáo tụng đình” và câu đó cho thấy, người dân không phải lúc nào cũng muốn giải quyết tranh chấp tại cơ quan tài phán. Thực tế, các bên tranh chấp thường tìm cách giải quyết bất đồng giữa họ bằng phương thức khác. Từ đó, hình thành khá phổ biến hình thức thỏa thuận, theo đó, các bên thống nhất cần thương lượng, hòa giải trước và chỉ khi nào thỏa thuận này bất thành, các bên mới yêu cầu cơ quan tài phán giải quyết.

Continue reading →