KINH NGHIỆM CỦA PHÁP VỀ HÒA GIẢI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

JEAN – MARIE COULONChánh án Toà Phúc thẩm Paris, Cộng hòa Pháp

Mục đích chính của việc hoà giải đó là khuyến khích việc giải quyết vụ việc theo thoả thuận giữa các bên trước khi tiến hành tố tụng hoặc trong quá trình tố tụng. Hoà giải trong tố tụng dân sự là một nghĩa vụ của thẩm phán cả về mặt pháp lý và về mặt đạo đức nghề nghiệp. Nghĩa vụ này được quy định trong pháp luật quốc gia (Điều 21, Bộ luật TTDS mới của Pháp) và cả trong pháp luật của Liên minh Châu Âu.

Ở Pháp, có ba phương thức thường được áp dụng để giải quyết vụ việc theo thoả thuận giữa các bên : Tự hoà giải ; hoà giải ; trung gian. Vấn đề này còn bao hàm một nội dung nữa, đó là vấn đề tiếp cận pháp luật (trợ giúp pháp lý). Vấn đề tiếp cận pháp luật lại gồm hai nội dung : Tạo điều kiện cho người dân hiểu và nắm bắt được nội dung của các quy định pháp luật ; cung cấp cho người dân những phương tiện cần thiết để thực hiện quyền của mình theo quy định của pháp luật.

1. Dàn xếp, tự hoà giải giữa các bên

Về phương thức giải quyết tranh chấp bằng dàn xếp, tự hòa giải giữa các bên, theo quy định của Đạo luật năm 1998 và Nghị định hướng dẫn thi hành, việc dàn xếp và tạo điều kiện cho các bên tự hoà giải là lĩnh vực hoạt động của luật sư. Đạo luật năm 1998 quy định một khuôn khổ pháp lý rất chặt chẽ cho việc tiến hành tự hòa giải giữa các bên mà không có sự tham gia của thẩm phán, thậm chí là trước khi đưa vụ việc ra tòa.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 51/2018/NĐ-CP NGÀY 09 THÁNG 4 NĂM 2018 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 158/2006/NĐ-CP ngày 28 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở Giao dịch hàng hóa

Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015;

Căn cứ Luật Thương mại ngày 14 tháng 6 năm 2005;

Căn cứ Luật Doanh nghiệp ngày 26 tháng 11 năm 2014;

Căn cứ Luật Đầu tư ngày 26 tháng 11 năm 2014;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công Thương,

Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 158/2006/NĐ-CP ngày 28 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở Giao dịch hàng hóa.

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 158/2006/NĐ-CP ngày 28 tháng 12 năm 2006 quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở Giao dịch hàng hóa (sau đây gọi tắt là Nghị định số 158/2006/NĐ-CP)

1. Sửa đổi khoản 3 Điều 3 như sau:

“Điều 3. Giải thích từ ngữ

3. Lệnh giao dịch là yêu cầu bằng văn bản hoặc các hình thức có giá trị tương đương văn bản của khách hàng nhằm thực hiện mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa”.

2. Bổ sung khoản 14, khoản 15 vào Điều 3 như sau:

“Điều 3. Giải thích từ ngữ

14. Liên thông là việc các Sở Giao dịch hàng hóa có thỏa thuận kết nối với nhau, theo đó hợp đồng hàng hóa của Sở Giao dịch hàng hóa này được giao dịch tại Sở Giao dịch hàng hóa kia và ngược lại”.

TRA CỨU NỘI DUNG ĐẦY ĐỦ CỦA NGHỊ ĐỊNH TẠI ĐÂY

TÍNH BẢO MẬT TRONG HÒA GIẢI THƯƠNG MẠI

LS. CHÂU VIỆT BẮC – Phó Tổng thư ký, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), Hòa giải viên tại Tp.HCM, Luật sư Đoàn Luật sư TP.HCM

Hòa giải thương mại và Trọng tài thương mại là hai trong các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn (ngoài tòa án) theo pháp luật Việt Nam. Theo đó, các phương thức này được hình thành dựa trên sự thỏa thuận, tự nguyện và có thủ tục giải quyết tuân thủ quy định pháp luật, cụ thể là Nghị định 22/2017/NĐ-CP (NĐ22) về hòa giải thương mại và Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (LTTTM). Bên cạnh những điểm khác biệt, một trong những đặc trưng cơ bản giống nhau của hai phương thức giải này là nguyên tắc bảo mật thông tin.

Đối với trọng tài, việc bảo mật thông tin được đặt ra giữa thành phần tham gia tố tụng với các thành phần bên ngoài tố tụng, theo đó, các bên tham gia giải quyết tranh chấp và Hội đồng trọng tài không được cung cấp thông tin cho bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào khác, ngoài trừ trường hợp các bên thỏa thuận đồng ý tiết lộ thông tin hoặc phải cung cấp theo qui định pháp luật.[1]

Tuy nhiên xét trong quan hệ giữa các bên tranh chấp, Hội đồng trọng tài và Trung tâm trọng tài (trong trường hợp giải quyết tranh chấp bằng hình thức trọng tài quy chế) thì tài liệu, thông tin trong vụ tranh chấp phải được công khai, minh bạch. Điều này có thể thấy rõ qua qui định tại khoản 1, Điều 12 LTTTM: “Các bản giải trình, văn thư giao dịch và tài liệu khác của mỗi bên phải được gửi đến Trung tâm Trọng tài hoặc Hội đồng trọng tài với số bản đủ để mỗi thành viên trong Hội đồng trọng tài có một bản, bên kia có một bản và một bản lưu tại Trung tâm”.

Tính bảo mật trong hòa giải

Khác với trọng tài, mặc dù NĐ 22 qui định khá tương đồng với LTTTM về tính bảo mật nhưng trong thực tiễn, tính bảo mật trong hòa giải đòi hỏi cao hơn và ở nhiều cấp độ khác nhau:

Continue reading

HÔN NHÂN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI Ở HẢI PHÒNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

PGS.TS. ĐỖ THỊ THẠCH – Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

THS. DƯƠNG THỊ KIM TOAN – Trường Chính trị Tô Hiệu, Hải Phòng

Hôn nhân là việc trọng đại trong cuộc đời mỗi con người, đó là việc nam nữ chính thức lấy nhau làm vợ chồng. Là việc riêng của mỗi cá nhân, song hôn nhân có ảnh hưởng to lớn đến đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, không chỉ của cá nhân, gia đình mà còn tới toàn xã hội. Sự tác động này còn mạnh mẽ hơn nữa khi hôn nhân có yếu tố nước ngoài.

Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài(1).

Trong những năm qua, cùng với quá trình mở cửa hội nhập, hôn nhân có yếu tố nước ngoài diễn ra khá phổ biến trên phạm vi nhiều tỉnh thành trong cả nước, trong đó Hải Phòng là một trong những địa bàn có số người kết hôn với người nước ngoài hoặc người Việt Nam ở nước ngoài đông. Theo số liệu thống kê của Sở Tư pháp Hải Phòng, từ năm 2001-2014 tình trạng đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài như sau:

Continue reading

BÁO CÁO CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC CÁN BỘ CỦA HỆ THỐNG TÒA ÁN NHÂN DÂN TẠI HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC NGÀNH TÒA ÁN NĂM 2018

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO – Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” – là cơ sở pháp lý và điều kiện quan trọng để đổi mới tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ Tòa án nhân dân theo mục tiêu Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao”.

Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 được Quốc hội khóa XIII, tại kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 24/11/2014 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/2015). Đây là một trong những đạo luật cơ bản về hoàn thiện bộ máy Nhà nước trong giai đoạn mới, đã thể chế hóa các chủ trương, quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp, đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân. Để đánh giá những thuận lợi, kết quả, khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân nhằm tiếp tục triển khai thi hành tốt Luật tổ chức Tòa án nhân dân, đặc biệt là đề ra những giải pháp trong những năm tiếp theo, Tòa án nhân dân tối cao báo cáo tình hình, kết quả công tác tổ chức cán bộ của hệ thống Tòa án nhân dân như sau:

A – TỔ CHỨC HỆ THỐNG TÒA ÁN NHÂN DÂN THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TỔ CHỨC TÒA ÁN NHÂN DÂN NĂM 2014

I. Về vị trí, vai trò và tổ chức của Tòa án nhân dân

Continue reading

NỖ LỰC XỬ LÝ NỢ XẤU TRONG QUÁ TRÌNH TÁI CƠ CẤU CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM

TS. LÊ THỊ THÙY VÂN – Viện Chiến lược và Chính sách tài chính, Bộ Tài chính

Cùng với các biện pháp quản lý nợ xấu trong quá trình cơ cấu lại các tổ chức tín dụng (TCTD), tỷ lệ nợ xấu bình quân toàn hệ thống TCTD đã giảm dần từ 17,21% dư nợ (tháng 9/2012) xuống dưới 3% trong giai đoạn 2015 – 2017. Bên cạnh những nỗ lực trong giám sát hệ thống ngân hàng, những nỗ lực của Công ty Quản lý Tài sản Việt Nam (VAMC) trong xử lý nợ xấu với các biện pháp linh hoạt, việc triển khai Nghị quyết 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (có hiệu lực trong 05 năm từ ngày 15/8/2017) cũng đã cho phép áp dụng nhiều chính sách mới về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, góp phần tạo lập cơ sở pháp lý thuận lợi hơn cho việc xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán nợ xấu.

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra trong quá trình xử lý nợ xấu đòi hỏi cần có các giải pháp đồng bộ, chú trọng vào các vấn đề như nâng cao hiệu lực, hiệu quả xử lý nợ của VAMC, phát triển thị trường mua bán nợ, vấn đề định giá nợ xấu, chứng khoán hóa nợ xấu hay xử lý những vướng mắc trong triển khai thực hiện Nghị quyết 42/2017/QH14… Bài viết đánh giá những kết quả đạt được trong xử lý nợ xấu ở Việt Nam, gắn với quá trình cơ cấu lại các TCTD. Đồng thời, nhận diện một số hạn chế, các vấn đề đặt ra cần được quan tâm để có giải pháp phù hợp nhằm xử lý triệt để nợ xấu, lành mạnh hóa các TCTD.

1. Những kết quả đạt được trong quá trình xử lý nợ xấu gắn với tái cơ cấu các TCTD

Continue reading