NGHỊ ĐỊNH SỐ 32/2018/NĐ-CP NGÀY 08/3/2018 SỬA ĐỔI NGHỊ ĐỊNH SỐ 91/2015/NĐ-CP VỀ ĐẦU TƯ VỐN NHÀ NƯỚC VÀO DOANH NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VỐN, TÀI SẢN TẠI DOANH NGHIỆP

Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015;

Căn cứ Luật doanh nghiệp ngày 26 tháng 11 năm 2014;

Căn cứ Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp ngày 26 tháng 11 năm 2014;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính;

Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 91/2015/NĐ-CP ngày 13 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp.

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 91/2015/NĐ-CP ngày 13 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp như sau:

1. Bổ sung khoản 7, khoản 8, khoản 9 vào Điều 4 như sau:

“7. Chủ sở hữu đối với vốn nhà nước hoặc vốn của doanh nghiệp nhà nước (sau đây gọi là chủ sở hữu vốn) là cơ quan đại diện chủ sở hữu hoặc doanh nghiệp nhà nước có vốn đầu tư chuyển nhượng.

Continue reading

PHÁN QUYẾT C-284/16 NGÀY 6 THÁNG 3 NĂM 2018 CỦA TÒA ÁN CÔNG LÝ CHÂU ÂU VỀ CÔNG NHẬN HIỆU LỰC CỦA PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI

Ngày 06/3/2018, Tòa án Công lý Châu Âu (European Court of Justice) bắt nguồn từ yêu cầu của Tòa án tối cao CHLB Đức đã ra Phán quyết C‑284/16 với nội dung khá quan trọng về công nhận hiệu lực của các phán quyết trọng tài tại các nước thành viên và có tác động đến cả phần còn lại của thế giới. Civillawinfor chia sẻ để các bạn tham khảo:


JUDGMENT OF THE COURT (Grand Chamber)

6 March 2018

(Reference for a preliminary ruling — Bilateral investment treaty concluded in 1991 between the Kingdom of the Netherlands and the Czech and Slovak Federative Republic and still applicable between the Kingdom of the Netherlands and the Slovak Republic — Provision enabling an investor from one Contracting Party to bring proceedings before an arbitral tribunal in the event of a dispute with the other Contracting Party — Compatibility with Articles 18, 267 and 344 TFEU — Concept of ‘court or tribunal’ — Autonomy of EU law)

In Case C‑284/16,

REQUEST for a preliminary ruling under Article 267 TFEU from the Bundesgerichtshof (Federal Court of Justice, Germany), made by decision of 3 March 2016, received at the Court on 23 May 2016, in the proceedings

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 1402/BCT-ĐTĐL NGÀY 22 THÁNG 2 NĂM 2018 CỦA BỘ CÔNG THƯƠNG VỀ VIỆC HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN GIÁ BÁN ĐIỆN CHO HOẠT ĐỘNG GIẢI MÃ, KHAI THÁC ĐỒNG TIỀN ẢO

Kính gửi: Tập đoàn Điện lực Việt Nam

Bộ Công Thương nhận được Công văn số 4887/EVN-KD ngày 18 tháng 10 năm 2017 của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Công văn số 7908/EVN CPC-KD ngày 21 tháng 9 năm 2017 của Tổng công ty Điện lực miền Trung, Công văn số 4572/EVNHCMC-KD ngày 19 tháng 10 năm 2017 của Tổng công ty Điện lực thành phố Hồ Chí Minh và Công văn số 4604/EVN HANOI-B14 ngày 23 tháng 10 năm 2017 của Tổng công ty Điện lực thành phố Hà Nội đề nghị hướng dẫn thực hiện giá bán điện cho khách hàng sử dụng điện có hệ thống máy tính xử lý dữ liệu tự động để phục vụ cho hoạt động giải mã, khai thác đồng tiền ảo như bitcoin, litecoin, ethereum và một số đồng tiền tương tự khác. Trên cơ sở ý kiến góp ý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại Công văn số 9853/NHNN- PC ngày 04 tháng 12 năm 2017 về tính hợp pháp của hoạt động giải mã, khai thác tiền ảo và Bộ Tư pháp tại Công văn số 335/BTP-PLDSKT ngày 29 tháng 01 năm 2018 về việc thực hiện giá bán điện cho khách hàng sử dụng điện có hệ thống máy tính xử lý dữ liệu tự động để phục vụ cho hoạt động giải mã, khai thác đồng tiền điện tử, Bộ Công Thương hướng dẫn như sau:

Hoạt động giải mã, khai thác đồng tiền ảo như bitcoin, litecoin, ethereum và một số đồng tiền tương tự khác thông qua phần mềm đã được lập trình sẵn trên hệ thống máy tính xử lý dữ liệu tự động mang tính chất làm dịch vụ thông qua việc giải thuật toán để xác minh giao dịch mua bán trên mạng. Vì vậy, điện năng sử dụng cho hoạt động này thuộc đối tượng áp dụng giá bán lẻ điện cho mục đích kinh doanh.

Đề nghị Tập đoàn Điện lực Việt Nam chỉ đạo các Tổng công ty Điện lực áp dụng giá bán điện mục đích kinh doanh cho hoạt động giải mã, khai thác các loại tiền ảo này./.

KT. BỘ TRƯỞNG

THỨ TRƯỞNG

Hoàng Quốc Vượng

CHUYỂN NHƯỢNG SUẤT TÁI ĐỊNH CƯ LÀ ĐẤT Ở chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

PGS.TS. PHAN TRUNG HIỀN – Phó trưởng Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ

LS.  PHẠM HỒNG DU– Đoàn Luật sư, Thành phố Cần Thơ

1. Tái định cư và suất tái định cư là đất ở

Cho đến nay, mặc dù cụm từ “tái định cư” đã được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1998[1] và được quy định trong Luật Đất đai năm 2013, Luật Xây dựng năm 2014, tuy nhiên, pháp luật Việt Nam vẫn chưa giải thích thế nào là “tái định cư” (TĐC). Nghiên cứu các quy định về TĐC, có thể khái quát rằng, TĐC là việc bố trí chỗ ở mới hoặc trả chi phí để người có đất bị thu hồi tìm một chỗ ở mới trong trường hợp người bị thu hồi đất không còn chỗ ở nào khác trong phạm vi địa phương nơi có đất bị thu hồi và phải di chuyển chỗ ở[2]. Tùy thuộc vào diện tích đất bị thu hồi và khả năng chi trả của người được TĐC, nếu người đủ điều kiện được bố trí TĐC mà không nhận tiền để tự lo chỗ ở mới, sẽ được ưu tiên bố trí TĐC tại chỗ bằng đất ở hoặc nhà ở tại khu vực có đất bị thu hồi hoặc tại nơi có điều kiện bố trí TĐC.

Nguyên tắc bố trí TĐC là: công khai hóa phương án TĐC; ưu tiên bố trí vị trí thuận lợi cho người có đất thu hồi sớm bàn giao mặt bằng, người có đất thu hồi là người có công với cách mạng; phương án bố trí TĐC đã được duyệt phải được công bố công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất bị thu hồi và tại nơi TĐC[3]. Để được nhận một suất TĐC thì người có đất bị thu hồi phải nộp tiền sử dụng đất, giá đất cụ thể tính tiền sử dụng đất tại nơi TĐC do UBND cấp tỉnh quy định, trường hợp người có đất thu hồi được bố trí TĐC mà tiền bồi thường, hỗ trợ không đủ để mua một suất TĐC tối thiểu thì được Nhà nước hỗ trợ tiền đủ để mua một suất TĐC tối thiểu[4].

Continue reading

GIAO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN CHO NGƯỜI ĐƯỢC GIAO NUÔI DƯỠNG – MỘT SỐ BẤT CẬP TỪ THỰC TIỄN THI HÀNH

THS. HOÀNG THỊ THANH HOA – Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên, Hà Nội

Giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định là một loại việc thi hành án đặc thù của các vụ án hôn nhân và gia đình. Trong bối cảnh các vụ việc ly hôn ngày càng có xu hướng gia tăng như hiện nay thì số lượng các việc thi hành án giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng mà các cơ quan thi hành án dân sự phải giải quyết ngày càng nhiều.

Đây là một loại việc thi hành án rất phức tạp do đối tượng thi hành án ở đây không phải là tiền hay tài sản mà là con người. Việc cưỡng chế giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng thường rất nhạy cảm, ảnh hưởng đến tâm lý, tình cảm của cả người được thi hành án, người phải thi hành án và đặc biệt là người chưa thành niên. Thậm chí còn có thể gặp phải sự cản trở, chống đối từ rất nhiều phía như gia đình, họ hàng, dư luận địa phương….nên rất khó khăn khi thực hiện.Biện pháp cưỡng chế thi hành án giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định được quy định tại khoản 6 Điều 71, Điều 120 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2014. Tuy nhiên trong thực tiễn, việc áp dụng các quy định của pháp luật vẫn còn một số bất cập như sau:

Thứ nhất: Việc xử phạt vi phạm hành chính

Theo quy định tại khoản 2 Điều 120 Luật Thi hành án dân sự: Trường hợp người phải thi hành án hoặc người đang trông giữ người chưa thành niên không giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng thì Chấp hành viên ra quyết định phạt tiền, ấn định thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người đó giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng. Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT: KIỆN CHỦ RUỘNG KẾ BÊN VÌ … MẤT MÙA LÚA

MINH KHÁNH – Báo Pháp luật TP.HCM

Lúa mất mùa, nguyên đơn đổ thừa cho chủ ruộng kế bên cố tình thả nước tràn vào gây ngập úng và đòi bồi thường 30 triệu đồng nhưng bị tòa bác.

Ông N. có thửa đất rộng hơn 10.000 m2, tọa lạc tại ấp 2, xã Mỹ Tân, huyện Cái Bè, Tiền Giang. Giáp ranh với phần đất của ông N. là thửa đất ruộng của ông V. Hai gia đình canh tác trồng lúa nhiều năm trước không xảy ra xích mích, cãi cọ gì.

Nhưng đến ngày 6-10-2015 âm lịch, ông N. sạ vụ lúa mới trên ruộng của mình trong khi ruộng của ông V. sạ trước đó bốn ngày. Lần gieo trồng này lúa của ông N. không đạt năng suất như ông mong muốn và ước tính. Sau một thời gian nghiên cứu nguyên nhân mất mùa, ông N. cho rằng lúa năng suất thấp là do ông V. làm ảnh hưởng tới. Từ đó ông N. đâm đơn ra TAND huyện Cái Bè khởi kiện yêu cầu ông V. phải bồi thường thiệt hại. Lý do ông V. đã thả nước tràn qua ruộng của ông khiến lúa ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển, kéo theo là giảm năng suất đáng kể.

Trong đơn khởi kiện và trình bày của mình, ông N. cho rằng thời điểm đó ông V. có hỏi ông để khơi nước qua ruộng nhưng ông không đồng ý. Vào đêm 8 và 9-10-2015 âm lịch, ông V. đã thả nước vào ruộng của mình rồi tự ý đào ranh giáp với đất của ông N. Mục đích của việc này là để cho nước tràn qua ruộng của ông N. Đến hôm sau có người cùng ấp báo thì ông N. mới biết ruộng lúa của mình ngập băng nước. Ông N. lập tức đến xả nước ra để cứu lúa, thấy cây lúa yếu ông còn phải xịt thuốc, rải phân để phục hồi lại.

Continue reading

TẶNG CHO TÀI SẢN CÓ ĐIỀU KIỆN và một số vướng mắc từ thực tiễn

13334 PHẠM THỊ HẰNG – Vụ pháp chế và quản lý khoa học, TANDTC

Trường hợp tặng, cho tài sản được lập thành văn bản thì gọi là hợp đồng tặng cho tài sản. Hợp đồng tặng cho tài sản lại có hai trường hợp khác nhau là Hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện và hợp đồng tặng cho tài sản không có điều kiện. Trong thực tiễn vấn đề tặng cho tài sản có những vướng mắc cần được hướng dẫn.

1. Đặt vấn đề

Trong đời sống việc việc tặng cho bao gồm cả việc tặng cho tài sản giữa cá nhân với cá nhân và việc tặng cho người khác tài sản hợp pháp của mình là chuyện bình thường. Nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương đối với cá nhân, gia đình người có công đối với đất nước trong công cuộc bảo về, xây dựng đất nước và đối với người có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt được thực hiện hàng năm để tri ân đối với các gia đình, cá nhân được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và để gắn bó tính đoàn kết với người có hoàn cảnh khó khăn.

Về mặt pháp luật, các giao dịch dân sự về tặng cho tài sản nêu trên được hiểu như thế nào là hợp pháp. Vấn đề này, chúng tôi có ý kiến như sau:

Việc tặng cho tài sản có thể bằng hình chức hợp đồng, cũng có thể là hành vi pháp lý đơn phương của chủ sở hữu tài sản làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự đối với bên tặng cho tài sản và đối với bên nhận tài sản tặng cho. Còn tài sản tặng cho, có thể là bất động sản hoặc là động sản.

Theo quy định tại Điều 107 Bộ luật Dân sự hiện hành về “Bất động sản và động sản” thì: “1) Bất động sản bao gồm:Đất đai;Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; Tài sản khác theo quy định của pháp luật.

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH SỐ 686/QĐ-BCT NGÀY 2 THÁNG 3 NĂM 2018 CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG THƯƠNG ÁP DỤNG BIỆN PHÁP TỰ VỆ CHÍNH THỨC

BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG THƯƠNG

Căn cứ Pháp lệnh số 42/2002/PL-UBTVQH10 ngày 25 tháng 5 năm 2002 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam;

Căn cứ Nghị định số 150/2003/NĐ-CP ngày 08 tháng 12 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam;

Căn cứ Nghị định số 98/2017/NĐ-CP ngày 18 tháng 8 năm 2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương;

Căn cứ Quyết định số 1682A/QĐ-BCT ngày 12 tháng 5 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Công Thương về điều tra áp dụng biện pháp tự vệ;

Căn cứ Quyết định số 3044/QĐ-BCT ngày 04 tháng 8 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Công Thương về áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời;

Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Áp dụng biện pháp tự vệ chính thức đối với sản phẩm phân bón DAP và MAP có mã HS: 3105.10.20; 3105.10.90; 3105.20.00; 3105.30.00; 3105.40.00; 3105.51.00; 3105.59.00; 3105.90.00 nhập khẩu vào Việt Nam từ các nước/vùng lãnh thổ khác nhau với nội dung chi tiết nêu trong Thông báo gửi kèm theo Quyết định này.

Continue reading

ĐIỀU LỆ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TẬP ĐOÀN ĐIỆN LỰC VIỆT NAM (Ban hành kèm theo Nghị định số 26/2018/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2018 của Chính phủ)

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Giải thích từ ngữ

Trong Điều lệ này, những từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. “Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam” là nhóm các công ty có tư cách pháp nhân độc lập, bao gồm:

a) Tập đoàn Điện lực Việt Nam (doanh nghiệp cấp I);

b) Các đơn vị nghiên cứu khoa học, đào tạo;

c) Các công ty con của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (doanh nghiệp cấp II);

d) Các công ty con của doanh nghiệp cấp II (doanh nghiệp cấp III);

đ) Các doanh nghiệp liên kết của Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam.

2. “Tập đoàn Điện lực Việt Nam” (sau đây gọi tắt là EVN) là công ty mẹ trong Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam, được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu theo Quyết định số 975/QĐ-TTg ngày 25 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ.

3. “Công ty con của EVN” (sau đây gọi tắt là công ty con) là các tổng công ty, các công ty hạch toán độc lập do EVN nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc giữ cổ phần, vốn góp chi phối hoặc nắm giữ quyền chi phối khác, được tổ chức dưới các hình thức: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (công ty TNHH một thành viên), công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (công ty TNHH hai thành viên trở lên), công ty cổ phần, công ty liên doanh với nước ngoài, công ty ở nước ngoài và các loại hình công ty khác theo quy định của pháp luật.

Continue reading

KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ CỦA MỘT SỐ NƯỚC VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

THS. NGUYỄN ĐẠI THẮNG

Chuyển giá gây nên nhiều hệ lụy, làm thất thu ngân sách nhà nước, gây nên bất ổn nền kinh tế, tạo nên sự cạnh tranh không lành mạnh. Do đó, kiểm soát hoạt động chuyển giá sẽ góp phần đảm bảo số thu cho ngân sách nhà nước, tạo nên sự cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Việt Nam là quốc gia đang trong quá trình hội nhập, việc tiếp thu những kinh nghiệm kiểm soát hoạt động chuyển giá của các quốc gia có nền kinh tế phát triển sẽ giúp hoàn thiện hành lang pháp lý, kiểm soát hoạt động chuyển giá và thực hiện tốt công tác kiểm soát hoạt động chuyển giá.

1. Kinh nghiệm từ một số nước

Mỹ

Các quy định về giá chuyển giao đã trở thành một phần trong luật thuế của Mỹ kể từ thời chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Khởi đầu là phần 482 của Luật Thu nội địa (IRC) ban hành năm 1968. Tháng 10/1988, Cơ quan Thuế nội địa Mỹ (IRS) đề nghị hai phương pháp nhằm thiết lập tiêu chuẩn cân xứng với thu nhập. Một là, dựa trên phân tích các giao dịch có thể so sánh.

Hai là, dựa trên việc tách lợi nhuận giữa các bên có liên kết. Tháng 1/1992, IRS ban hành quy định giới thiệu ba phương pháp định giá mới, tất cả dựa trên việc đối chiếu các tài liệu về kết quả giao dịch. Tháng 1/1993, IRS ban hành quy định tạm thời. Ngày 1/7/1994, quy định chính thức được ban hành, có hiệu lực từ ngày 8/7/1994 cho đến nay. Mỹ rất quan tâm đến vấn đề kiểm soát chuyển giá của các công ty đa quốc gia. Điều này thể hiện trên các giác độ sau:

Continue reading

BÁO CÁO TỔNG KẾT THI HÀNH BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

BỘ TƯ PHÁP

Bộ luật dân sự năm 2005 (sau đây gọi là BLDS) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 1 năm 2006) là văn bản pháp luật quan trọng, điều chỉnh một lĩnh vực rộng lớn các quan hệ xã hội trong giao lưu dân sự. Bộ luật này cũng là nền tảng pháp lý cho hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (gọi chung là quan hệ dân sự).

Qua thực tiễn thi hành, BLDS đã phát huy vai trò to lớn trong việc quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền, nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng; bảo đảm sự bình đẳng và an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự; góp phần đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Tuy nhiên trong bối cảnh đất nước bước sang giai đoạn phát triển mới cùng với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, các quan hệ dân sự đã có những thay đổi đáng kể và nhanh chóng cần có sự điều chỉnh phù hợp của pháp luật. Trong bối cảnh như vậy, BLDS đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, bổ sung.

Nắm bắt được thực trạng này, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1322/QĐ-TTg ngày 18 tháng 9 năm 2012 về việc phê duyệt Kế hoạch tổng kết thi hành BLDS. Việc tổng kết này được coi là hoạt động quan trọng nhằm đánh giá tác động của BLDS tới sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; tác động của phát triển kinh tế – xã hội đến các quan hệ dân sự và quy định của BLDS; mối liên hệ giữa BLDS với các luật, pháp lệnh, điều ước quốc tế có liên quan; những thành công, cũng như những hạn chế trong quy định và tổ chức thực hiện Bộ luật; xác định những vấn đề phát sinh trong thực tiễn và đưa ra các đề xuất, giải pháp cụ thể để xử lý các vấn đề này một cách có hiệu quả.

Continue reading

CHUYỂN GIÁ TRONG DOANH NGHIỆP FDI: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

TS. NGUYỄN THỊ THU HOÀI – Đại Học Kinh tế (ĐHQG Hà Nội)

NCS. DƯƠNG VĂN AN

Bên cạnh những đóng góp tích cực của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vào phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, khu vực này cũng đã bộc lộ một số vấn đề như tình trạng chuyển giá, trốn thuế, gây thất thu ngân sách, tác động không tốt đến môi trường đầu tư của Việt Nam… Bài viết phản ánh hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và đề xuất một số giải pháp hạn chế thực trạng này.

Thực trạng hoạt động chuyển giá và chống chuyển giá

Thực tế cho thấy, vai trò của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam là khá rõ nét và đã được khẳng định. Hiện nay, cả nước có khoảng trên 15.000 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt 218,8 tỷ USD, vốn thực hiện khoảng 106 tỷ USD.

Các dự án FDI góp phần tăng thu ngân sách, cải thiện cán cân thanh toán, là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, nâng cao trình độ kỹ thuật và công nghệ, phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam, giải quyết công ăn việc làm, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao mức sống cho người lao động.

Continue reading

GIẢM GIÁ TRỊ CỦA TÀI SẢN VÀ SỰ ẢO TƯỞNG VỀ GIÁ TRỊ THỰC CỦA CÁC TÀI SẢN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM

 TRẦN MẠNH DŨNG MBA, CPA – Đại học Macquarie, Australia

Nếu giá trị hợp lý hoặc giá trị sử dụng cao hơn giá trị ghi sổ, thì không cần tính giá trị còn lại và khi đó tài sản không bị giảm giá trị. Nếu giá trị hợp lý không xác định được, đơn vị tiến hành xác định giá trị sử dụng của tài sản. Đối với tài sản chờ thanh lý, giá trị có thể thu hồi là giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán tài sản đó.

Giới thiệu về Chuẩn mực Giảm giá trị của tài sản

Tài sản của đơn vị được ghi nhận theo giá mua của nghiệp vụ tại thời điểm mua. Sau đó, qua thời gian đơn vị tiến hành đánh giá lại tài sản để phản ánh giá trị hợp lý của nó trên Bảng cân đối kế toán. Nếu tài sản có sự giảm giá trị, khi đó sẽ phát sinh chi phí giảm giá trị của tài sản và giá trị ghi sổ sẽ được ghi giảm xuống bằng với giá trị có thể thu hồi của tài sản. Tuy nhiên, câu hỏi khi nào và như thế nào áp dụng phương pháp kiểm tra giảm giá trị của tài sản chỉ có thể được giải đáp khi áp dụng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế số 36 (IAS 36) “Giảm giá trị của tài sản”. IAS 36 là một trong các Chuẩn mực lập Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) và được sửa đổi, cập nhật hàng năm. Nhưng IAS 36 được biết và được sử dụng nhiều hơn ở nhiều quốc gia từ 1/1/2005.

Mục đích và phạm vi của chuẩn mực

Chuẩn mực này áp dụng đối với tài sản là đất đai, nhà cửa, máy móc thiết bị, tài sản cố định vô hình, lợi thế thương mại, đầu tư vào công ty con, công ty liên kết, công ty liên doanh. Nó có mục tiêu là đảm bảo tài sản được ghi nhận không cao hơn giá trị có thể thu hồi của tài sản.

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT: 15 NĂM KIỆN CHỒNG CŨ ĐÒI CHIA TÀI SẢN CHUNG

 THANH VÂN – Báo Pháp luật TP.HCM

Ngày 29-11, Tòa Gia đình và Người chưa thành niên TAND TP.HCM đã xử phúc thẩm lần thứ ba vụ tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn giữa ông LVH và bà BTKH (cùng ngụ quận Gò Vấp).

Tính đến nay, vụ án đã kéo dài hơn 15 năm với sáu phiên tòa sơ, phúc thẩm và một phiên tòa giám đốc thẩm.

Theo hồ sơ, ông H. (SN 1962) và bà KH (SN 1963) ly hôn từ tháng 3-2002. Sau đó, bà KH yêu cầu TAND quận Gò Vấp chia tài sản chung là một căn nhà ở đường Lê Đức Thọ (quận Gò Vấp). Theo bà, một nửa căn nhà này do vợ chồng bà tạo lập được, nửa còn lại do cha mẹ chồng cho. Bà cùng ông H. sống tại đây từ năm 1990, đến năm 1995 hai người đã bỏ tiền ra sửa nhà. Bà yêu cầu được hưởng một nửa căn nhà.

Trong khi đó, ông H. nói nhà là tài sản của cha mẹ ông. Năm 1992, cha ông mất, mẹ ông cùng các anh chị em đã cho riêng ông căn nhà này. Năm 2002, mẹ ông có lập di chúc cho ông được hưởng phần tài sản của bà trong khối tài sản chung…

Đầu năm 2004, TAND quận Gò Vấp xử sơ thẩm (lần đầu) đã chấp nhận yêu cầu của bà KH. Ông H. kháng cáo.

Continue reading

TIỀN ẢO, ĐỜI THỰC: NHỮNG GÓC KHUẤT CỦA BITCOIN

 HUỲNH BỬU SƠN

Không một lý thuyết kinh tế nào có thể tiên đoán được sự tăng giá chóng mặt của các đồng tiền ảo trong những năm gần đây, đặc biệt là trong năm 2017. Điển hình và được nhắc đến nhiều nhất cũng như có giá cao nhất trong số gần 1.500 loại tiền ảo là đồng Bitcoin.

Ra đời từ năm 2009 – theo một câu chuyện truyền kỳ được tiết lộ – bởi một kỹ sư tin học tài ba có một cái tên rất Nhật là Satoshi Nakamoto. Ông là tác giả bài viết giới thiệu Bitcoin đầu tiên bằng một thứ tiếng Anh cực kỳ tinh tế – một người chưa ai biết mặt, biết tuổi và cũng không hề nhận mình là cha đẻ của Bitcoin.

Nhiều người cho rằng sự ẩn danh của cha đẻ đồng Bitcoin có lý do đạo đức, ông biết rằng mình đã tạo ra một thứ gì đó mà sau này sẽ gây tán gia bại sản cho vô số người mặc dù đã làm giàu cho chính ông. Cha đẻ đồng Bitcoin được biết là đã sở hữu không dưới 1 triệu đồng Bitcoin trong thời kỳ đầu tạo dựng ra nó bằng một kỹ thuật toán siêu việt và giải mã chúng.

Cho đến nay, nhiều người vẫn tin rằng các phương trình toán này được thiết lập để hạn chế số lượng Bitcoin tạo ra không vượt quá ngưỡng 21 triệu đồng. Vào cuối năm 2017, người ta ước lượng đã có 16,5 triệu đồng Bitcoin được đào xới, như vậy sẽ chỉ còn 4,5 triệu đồng Bitcoin mà những chuyên gia tin học, sử dụng những siêu máy tính và những thiết bị công nghệ cao cấp, đắt tiền có thể đào tìm được trong tương lai. Điều đó khiến mọi người dễ tin rằng đồng Bitcoin sẽ không bị lạm phát như các loại tiền giấy khác và do đó khó thể bị mất giá.

Continue reading

GÓP TỰ DO CỦA MÌNH VÀO ĐÂU HIỆU QUẢ NHẤT?

 PGS.TS. VÕ TRÍ HẢO – Khoa Luật, Đại học kinh tế TP.HCM

Dưới góc nhìn kinh tế và toán học, tác giả mạn đàm chuyện tối ưu hoá góp quyền tự do cho các chủ thể trung gian, bao gồm nhà nước.

Thuở hồng hoang, con người sống trong một xã hội chưa có luật pháp. Ở trạng thái tự nhiên đó, con người có mọi quyền, bao gồm cả quyền tự do giết người khác1. Tuy nhiên, trí thông minh của con người sớm nhận ra rằng: nếu mình có quyền tự do giết người khác, thì người khác cũng có quyền tự do giết mình. Việc từng cá nhân riêng lẻ tiếp tục giữ lại và hành xử một cách cá nhân các quyền tự do nguy hiểm này không có lợi cho từng cá nhân, không có lợi cho sự tồn tại của cộng đồng; họ cùng nhau thoả thuận từ bỏ quyền tự do này có điều kiện, có kiểm soát.

Ai sẽ là người kiểm soát quyền tự do này? “Bên thứ ba” được cộng đồng gửi gắm làm chủ thể tiếp nhận và hành xử phần quyền tự do này. Theo nguyên tắc gần trước, xa sau; cộng đồng ban đầu trao cho tù trưởng, tộc trưởng, rồi đến già làng, trưởng bản… “Bên thứ ba” này cứ thế tiến hoá dần để đáp ứng với nhu cầu ngày càng cao của con người với tốc độ tương ứng với sự dịch chuyển của các nền văn minh của con người. Khi loài người từ bỏ lối sống lang thang săn bắn hái lượm, định cư tiến sang văn minh nông nghiệp thì “già làng, trưởng bản, trưởng tộc” không còn đủ sức giải quyết những tranh chấp đất đai, nguồn nước; càng không đủ sức đắp đê trị thuỷ; các làng ven sông thoả thuận liên kết lại để hình thành nên quyền lực liên làng, mà sự hình thành nhà nước Văn Lang cổ đại ở đồng bằng sông Hồng, Việt Nam là một ví dụ. Để vận hành quyền lực liên làng cần đến một tổ chức chuyên nghiệp; già làng, trưởng bản được thay thế bởi vua cùng hệ thống quan lại – nhóm người tách ra khỏi đời sống sản xuất trực tiếp; đổi lại cho sự đóng góp này, cộng đồng hy sinh một phần quyền tự do kinh tế, quyền tư hữu, đóng thuế nuôi họ, hình thành nên nhà nước của dân, do dân, vì dân; chứ không nhất thiết toàn nhân loại cứ phải đi theo con đường duy nhất đàn áp, cướp bóc lẫn nhau theo mô hình Athen cổ đại.

Continue reading

VỀ TÍNH HỢP LÝ CỦA KHOẢN 3 ĐIỀU 7 NGHỊ QUYẾT SỐ 04/2017/NQ-HĐTP NGÀY 05/5/2017 CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TANDTC

TƯỞNG DUY LƯỢNG – Nguyên Phó Chánh án TANDTC

1. Về các trường hợp được khởi kiện lại, không được khởi kiện lại

Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Bộ luật TTDS 2015) quy định về quyền khởi kiện vụ án dân sự như sau: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”. Khi đương sự khởi kiện, Tòa án phải tiếp nhận, xử lý đơn khởi kiện, nếu đương sự đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật TTDS và loại việc thuộc thẩm quyền Tòa án thì Tòa án phải thụ lý, giải quyết. Khi giải quyết, tùy diễn biến cụ thể trong mỗi vụ việc dân sự mà Tòa án ban hành “phán quyết” dưới hình thức như: bản án do Hội đồng xét xử ban hành, hoặc dưới hình thức quyết định do Hội đồng xét xử, do Thẩm phán ban hành. Khi vụ việc đã được giải quyết và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì về nguyên tắc, Tòa án không thụ lý, giải quyết lại. Do đó, điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật TTDS 2015 đã quy định: “c) Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền” mà đương sự khởi kiện lại thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện, không thụ lý giải quyết.

Một trong những hình thức được coi là giải quyết vụ việc dân sự, đó là quyết định đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại Điều 192 Bộ luật TTDS năm 2004 được sửa đổi, bổ sung năm 2011 (Bộ luật TTDS 2004) và quy định tại Điều 217 Bộ luật TTDS 2015.

Điều 217 Bộ luật TTDS 2015 đã sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung so với Điều 192 Bộ luật TTDS 2004 và được thiết kế thành 4 khoản, trong đó quy định các căn cứ pháp luật cho phép Tòa án có thẩm quyền đình chỉ giải quyết vụ án khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều này.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 22/2018/NĐ-CP NGÀY 23/2/2018 QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU VÀ BIỆN PHÁP THI HÀNH LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ NĂM 2005 VÀ LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ NĂM 2009 VỀ QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN

Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015;

Căn cứ Luật sở hữu trí tuệ ngày 29 tháng 11 năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ ngày 19 tháng 6 năm 2009;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;

Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan.

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ năm 2009 (sau đây gọi chung là Luật sở hữu trí tuệ) về quyền tác giả, quyền liên quan.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với:

1. Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền liên quan theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 23/2018/NĐ-CP NGÀY 23/2/2018 QUY ĐỊNH VỀ BẢO HIỂM CHÁY, NỔ BẮT BUỘC

Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015;

n cứ Luật kinh doanh bảo hiểm ngày 09 tháng 12 năm 2000 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm ngày 24 tháng 11 năm 2010;

Căn cứ Luật phòng cháy và chữa cháy ngày 29 tháng 6 năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng cháy và chữa cháy ngày 22 tháng 11 năm 2013;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính;

Chính phủ ban hành Nghị định quy định về bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc.

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc:

1. Điều kiện, mức phí bảo hiểm; số tiền bảo hiểm tối thiểu.

2. Mức thu, chế độ quản lý, sử dụng nguồn thu từ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc cho hoạt động phòng cháy, chữa cháy.

3. Trách nhiệm của các bộ, cơ quan có liên quan và doanh nghiệp bảo hiểm trong việc thực hiện bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc.

Continue reading