BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VỚI TƯ CÁCH LÀ NGƯỜI NHẬN BẢO ĐẢM NGAY TÌNH

PHẠM TUẤN ANH – Ban Kiểm tra và Giám sát, BIDV

Tài sản bảo đảm là một trong những công cụ quan trọng giúp cho các tổ chức tín dụng phòng ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng. Nhưng thực tế cho thấy, trong một số trường hợp, mặc dù đã tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật nhưng các tổ chức tín dụng – với tư cách là bên nhận bảo đảm (1) vẫn không thể tránh khỏi nguy cơ bị mất quyền xử lý tài sản bảo đảm do trước khi mang đi thế chấp hoặc cầm cố, các tài sản này đã được chuyển giao cho bên bảo đảm (2) bằng một giao dịch không có hiệu lực pháp luật. Thông thường, dưới góc độ pháp luật, các trường hợp nhận tài sản bảo đảm này được gọi là nhận tài sản bảo đảm ngay tình, các tổ chức tín dụng khi đó được xác định là bên nhận bảo đảm ngay tình.

Người nhận bảo đảm ngay tình là một vấn đề không mới ở nhiều hệ thống pháp luật tiến bộ trên thế giới. Tại Việt Nam, vấn đề này bắt đầu được đề cập trong Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm với việc đưa ra định nghĩa về “bên nhận bảo đảm ngay tình”. Cho đến nay, bên nhận bảo đảm ngay tình vẫn đang được pháp luật thừa nhận và bảo vệ quyền lợi như là một trường hợp của người thứ ba ngay tình. Tuy nhiên, hiện nay, trong quá trình xây dựng dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 về giao dịch bảo đảm (thay thế Nghị định số 163/2006/NĐ-CP), đang có một số quan điểm trái chiều liên quan đến vấn đề nhận bảo đảm ngay tình, trong đó có cả những quan điểm cho rằng bên nhận bảo đảm ngay tình không phải là một trường hợp của người thứ ba ngay tình. Để làm rõ hơn vấn đề trên, bài viết sẽ tập trung phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật liên quan đến bên nhận bảo đảm ngay tình, trên cơ sở đó đề xuất một số định hướng nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật, bảo vệ tốt hơn quyền lợi chính đáng của loại chủ thể đặc biệt này.

1. Khái niệm về người nhận bảo đảm ngay tình

1.1. Khái niệm về người thứ ba ngay tình

Continue reading

BOT VÀ PPP: TÍNH MINH BẠCH VÀ TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH

 NGUYỄN TIẾN LẬP

Những phản đối và hệ lụy xung quanh các sai phạm trong thực hiện các tuyến BOT giao thông vừa qua cho thấy cần thiết nhìn lại các ưu, nhược điểm trong cơ chế hợp tác công tư (PPP) và thảo luận về giải pháp minh bạch hoá hình thức này.

Ba nguyên nhân dẫn tới phản ứng của người dân

Nhìn ở bề nổi, hiện tượng người dân nói chung và các lái xe nói riêng phản ứng chống lại một cách dữ dội tại các trạm thu phí đường BOT vừa qua đã nói lên một thực tế có tính cảnh báo: đó là họ đang phải trả quá nhiều phí tới mức không chịu đựng nổi cho việc lưu thông bình thường trên đường, là điều mà trước đây họ không phải làm như vậy. Nói một cách khác, chính khách hàng của các con đường BOT mà ngành giao thông đang rất tự hào đã trở thành nạn nhân của các con đường ấy và họ đang kêu cứu một cách tập thể. Theo tôi có ba vấn đề là căn nguyên của câu chuyện này:

Trước hết, chủ trương BOT hoá một cách rầm rộ, ồ ạt và đại trà mạng lưới đường bộ là một sai lầm. Về thực chất BOT chỉ là một phương thức đầu tư phát triển hạ tầng, đường xá, nhưng qua phương thức này Bộ Giao thông muốn nhanh chóng có được mạng lưới đường bộ mới, hiện đại hơn, thậm chí là các con đường cao tốc phủ khắp cả nước. Về lâu dài, điều đó là cần thiết, nhưng nhu cầu ấy chưa thực sự cấp bách đối với nền kinh tế và đời sống hiện nay của người dân. Đơn giản nói về khái niệm “nhu cầu” một cách lý thuyết, đó phải là các đòi hỏi và ham muốn về một điều gì đó gắn với khả năng chi trả, chưa nói tới hiệu năng sử dụng và tương quan tổng thể của các nhu cầu khác nhau cần được đáp ứng tại cùng một giai đoạn hay thời điểm. Xét theo ý nghĩa như vậy, rất nhiều con đường to rộng và đẹp hơn được xây dựng không căn cứ vào nhu cầu cấp thiết, bởi trên thực tế chúng có ít xe cộ chạy qua, đặc biệt là các xe tải chở hàng vốn là phương tiện trực tiếp phục vụ sản xuất – kinh doanh. Cho nên, BOT hoá một cách thái quá, tức là vừa hút vốn đầu tư nhiều để xây đường vừa thu tiền cao cho việc sử dụng đường, đã làm cho cả nền kinh tế lẫn đời sống dân sinh trở nên “quá tải”.

Continue reading

THUẬN LỢI VÀ THÁCH THỨC TRONG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH VIỆT NAM

TS. NGUYỄN THU THỦY – Đại học Thương mại

Đặt vấn đề

Thị trường chứng khoán phái sinh chịu ảnh hưởng bởi sự phát triển của thị trường chứng khoán (TTCK) cơ sở. Sau 16 năm hoạt động, với hai sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) như hiện tại và các công cụ đầu tư cơ bản như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ,… TTCK Việt Nam đã đến lúc cần phát triển lên một tầm cao hơn với các công cụ đa dạng hơn như các sản phẩm phái sinh. Trước đòi hỏi khách quan của nền kinh tế và cũng nhằm thực hiện mục tiêu hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường, phát triển TTCK phái sinh ở Việt Nam đã trở thành mục tiêu quan trọng trong Chiến lược phát triển TTCK Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020. Phát triển TTCK phái sinh sẽ không chỉ làm tăng tính thanh khoản của thị trường và cung cấp các phương tiện để phòng ngừa rủi ro cho những nhà đầu tư, mà còn giúp thị trường trở nên hiệu quả hơn thông qua các hoạt động kinh doanh chênh lệch giá liên thị trường. Với dữ liệu phân tích tổng hợp, bài viết đã chỉ ra những thuận lợi và thách thức trong phát triển TTCK phái sinh Việt Nam, đề xuất một số gợi ý về chính sách nhằm phát triển TTCK phái sinh Việt Nam trong thời gian tới.

Theo kinh nghiệm thế giới về phát triển TTCK phái sinh, để xây dựng và phát triển bền vững TTCK phái sinh cần dựa trên 05 tiền đề cơ bản, đó là: (i) Quy mô của TTCK cơ sở, sự biến động giá; (ii) nhu cầu về phòng ngừa rủi ro và đầu cơ; (iii) hiệu quả của TTCK và mức độ tự do hóa của hoạt động thị trường tài chính; (iv) hệ thống quy định pháp lý; (v) năng lực của cơ quan quản lý nhà nước, SGDCK, các định chế trung gian. Ngoài ra, công chúng đầu tư cũng cần phải được đào tạo để nâng cao nhận thức về thị trường này. Đặt trong bối cảnh Việt Nam, theo chúng tôi, TTCK phái sinh trong giai đoạn sắp tới sẽ có thuận lợi và thách thức trong phát triển như sau:

1. Thuận lợi trong phát triển TTCK phái sinh Việt Nam

Thứ nhất, quy mô của TTCK cơ sở liên tục gia tăng

Sự gia tăng về quy mô của TTCK cơ sở được thể hiện rõ nét thông qua sự gia tăng về giá trị vốn huy động, số lượng chứng khoán niêm yết và nhà đầu tư tham gia thị trường. Nếu như vào năm 2000 trên TTCK cơ sở có 2 mã cổ phiếu niêm yết thì đến năm 2016, số lượng cổ phiếu, chứng chỉ quỹ và trái phiếu niêm yết đã tăng lên rõ rệt. Tính đến cuối tháng 12/2016, thị trường đã có 695 công ty niêm yết trên 2 SGDCK và trên 400 công ty đăng ký giao dịch trên UPCoM.

Continue reading