TẢN MẠN VỀ LẬP LUẬN

GS.TS. NGUYỄN ĐỨC DÂN

Một nguyên lý sư phạm cho nền giáo dục tiên tiến: cấp cần câu chứ không cho cá. Cái cần câu cấp cho người học là phương pháp độc lập tư duy, đánh giá, phát hiện và giải quyết vấn đề. Trước hết, đó là phương pháp tư duy phản biện mà cốt lõi là lý thuyết lập luận. Khi có thói quen tư duy phản biện, hiện tượng được nhìn nhận, đào sâu tới gốc rễ của nó. Hơn ai hết, giới nghị sĩ phải rèn luyện về lập luận.

Lập luận là gì?

Xuất phát từ tiền đề (những sự kiện, chân lý được mọi người thừa nhận), dựa trên những lý lẽ chúng ta đi tới những kết luận – đó là lập luận. Có hai loại lập luận: lập luận để chứng minh một chân lý và lập luận để thuyết phục.

Loại lập luận thứ nhất thuộc lôgích hình thức. Đó là toán chứng minh trong hình học, đại số, vật lý, hoá học… dạy trong trường học. Lý lẽ trong loại này là những định lý, định luật, quy tắc… đã biết.

Trong đời thường còn có loại lập luận để thuyết phục, tạo niềm tin, nói sao cốt để người nghe thấy “lọt lỗ tai” rồi tin theo điều mình nói hoặc từ bỏ những xác tín cũ. Lý lẽ chủ yếu ở loại lập luận này là những lôgích đời thường: “ở hiền gặp lành” là lý lẽ về quan hệ nhân quả, “trời kêu ai người ấy dạ” là lý lẽ về số mạng, “con nhà tông không giống lông cũng giống cánh” là lý lẽ về dòng dõi. Đó là những lẽ thường hay lý lẽ “hiển nhiên là thế”. Loại lập luận này thuộc lôgích phi hình thức. Ở đây lý lẽ có tầm quan trọng hàng đầu. Chất vấn, trả lời, tranh luận trước Quốc hội là những lập luận để thuyết phục.

Lý lẽ trong lập luận

Những kết luận không chứng minh, không có lý lẽ là loại lập luận quyền uy chẳng thuyết phục được ai. Tiếc thay, loại này thường thấy trong diễn đàn Quốc hội.

“Chân lý thuộc về số đông” là loại lý lẽ về số lượng. Nó loại trừ lý lẽ “ta làm theo cách của ta”. Dùng lý lẽ này, GS Hoàng Tuỵ viết: “Yếu kém nhất của nền giáo dục đại học Việt Nam hiện nay là đi lạc con đường chung của thế giới đang đi. Lạc hậu còn có thể khắc phục được nhưng lạc đường thì mãi mãi khó đuổi kịp các nước” (Sài Gòn Tiếp Thị, 14.10.2011).

Continue reading

QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG VÀNG VIỆT NAM TỪ PHẢN ỨNG CỦA THỊ TRƯỜNG ĐỐI VỚI SỰ THAY ĐỔI CỦA CÁC CHÍNH SÁCH TRONG GIAI ĐOẠN 2011 – 2013

TS. NGUYỄN ĐỨC TRUNG – Viện Nghiên cứu khoa học ngân hàng, Học viện Ngân hàng

Cùng với xu thế biến động của thế giới, thời gian gần đây, thị trường vàng Việt Nam chứng kiến một số biến động bất thường về giá cả, cơ cấu và hoạt động thị trường. Hiện tượng “vàng hóa” quay trở lại từ năm 2008 và lượng vàng dự trữ trong dân vẫn chưa thể được xác định một cách chính xác. Các cơ quan quản lý phải đối diện với nhiều thách thức khi đưa ra các chính sách và biện pháp can thiệp thị trường. Bên cạnh đó, nhiều quan điểm cho rằng vẫn tồn tại mối quan hệ khá phức tạp giữa thị trường vàng trong nước và thế giới cũng như thị trường vàng với thị trường ngoại tệ. Trước tình hình trên, bài nghiên cứu này tập trung vào nội dung “Phân tích và đo lường các tác động của các chính sách quản lý thị trường vàng giai đoạn 2011-2015 đối với thị trường vàng Việt Nam cũng như việc đảm bảo thực hiện các mục tiêu đề ra của cơ quan quản lý vĩ mô”.

Xét dọc theo chiều dài lịch sử, giai đoạn 2011 – 2013 có thể coi như mốc thời gian quan trọng nhất đối với hoàn chỉnh các chính sách về quản lý thị trường vàng của Việt Nam. Cụ thể, năm 2011, NHNN chính thức ban hành Thông tư 11/2011/TT-NHNN (về việc chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng của TCTD) với mục tiêu loại trừ vàng khỏi hệ thống tín dụng và không cho phép sử dụng nó làm phương tiện dẫn vốn. Theo đó, kể từ 01/05/2011, các TCTD không được thực hiện cho vay, huy động vốn bằng vàng, mà chỉ được phát hành chứng chỉ ngắn hạn bằng vàng để chi trả theo yêu cầu của khách hàng và hoạt động này cũng sẽ chấm dứt vào 01/05/2012. Tiếp đó, Nghị định 95/2011/NÐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 202/2004/NÐ-CP ngày 10/12/2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng được ban hành (theo đó, tăng tất cả các mức phạt đối với các vi phạm về hoạt động kinh doanh vàng). Năm 2012, Nghị định số 24/2012/NÐ-CP ngày 03/04/2012 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng và Thông tư số 16/2012/TT-NHNN ngày 25/5/2012 hướng dẫn một số điều của Nghị định 24 đã được ban hành với mục tiêu đảm bảo sự ổn định và minh bạch của thị trường cũng như việc quản lý thị trường vàng đi kèm với quản lý các biến số kinh tế vĩ mô như tỷ giá và lạm phát. Năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 16/2013/QÐ-TTg, NHNN ban hành Thông tư 06/2013/TT-NHNN, Quyết định 563/QÐ-NHNN nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý trong việc mua bán vàng miếng, là tiền đề cho các giải pháp bình ổn thị trường vàng trong nước thông qua việc bình ổn cung cầu.

Vậy, thị trường đã phản ứng như thế nào khi các văn bản pháp quy trên đã thực sự có hiệu lực?

1. Thị trường vàng trong nước dần hướng tới sự ổn định mặc dù giá vàng thế giới biến động mạnh

Ngày 29/04/2011, NHNN ban hành Thông tư số 11/2011/TT-NHNN quy định về chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng của tổ chức tín dụng. Theo Thông tư số 11/2011/TT-NHNN, TCTD không được thực hiện huy động và cho vay vốn bằng vàng đối với khách hàng và TCTD. Ðây là một bước đi quan trọng trong việc hạn chế tình trạng “vàng hóa” nền kinh tế trước khi chuyển hoàn toàn quan hệ huy động, cho vay vốn bằng vàng sang quan hệ mua bán. Giải pháp trên đã phát huy tác dụng đáng kể khi tình trạng người dân đổ xô đi mua vàng trước những đợt tăng giá vàng trong và ngoài nước được hạn chế dần. Do vậy, biến động giá vàng trong nước trong thời kỳ này tương đối ổn định trước những đợt tăng mạnh của giá vàng thế giới (chi tiết có thể thấy khá rõ qua biểu đồ 1a).

Continue reading