TẢN MẠN VỀ LẬP LUẬN

GS.TS. NGUYỄN ĐỨC DÂN

Một nguyên lý sư phạm cho nền giáo dục tiên tiến: cấp cần câu chứ không cho cá. Cái cần câu cấp cho người học là phương pháp độc lập tư duy, đánh giá, phát hiện và giải quyết vấn đề. Trước hết, đó là phương pháp tư duy phản biện mà cốt lõi là lý thuyết lập luận. Khi có thói quen tư duy phản biện, hiện tượng được nhìn nhận, đào sâu tới gốc rễ của nó. Hơn ai hết, giới nghị sĩ phải rèn luyện về lập luận.

Lập luận là gì?

Xuất phát từ tiền đề (những sự kiện, chân lý được mọi người thừa nhận), dựa trên những lý lẽ chúng ta đi tới những kết luận – đó là lập luận. Có hai loại lập luận: lập luận để chứng minh một chân lý và lập luận để thuyết phục.

Loại lập luận thứ nhất thuộc lôgích hình thức. Đó là toán chứng minh trong hình học, đại số, vật lý, hoá học… dạy trong trường học. Lý lẽ trong loại này là những định lý, định luật, quy tắc… đã biết.

Trong đời thường còn có loại lập luận để thuyết phục, tạo niềm tin, nói sao cốt để người nghe thấy “lọt lỗ tai” rồi tin theo điều mình nói hoặc từ bỏ những xác tín cũ. Lý lẽ chủ yếu ở loại lập luận này là những lôgích đời thường: “ở hiền gặp lành” là lý lẽ về quan hệ nhân quả, “trời kêu ai người ấy dạ” là lý lẽ về số mạng, “con nhà tông không giống lông cũng giống cánh” là lý lẽ về dòng dõi. Đó là những lẽ thường hay lý lẽ “hiển nhiên là thế”. Loại lập luận này thuộc lôgích phi hình thức. Ở đây lý lẽ có tầm quan trọng hàng đầu. Chất vấn, trả lời, tranh luận trước Quốc hội là những lập luận để thuyết phục.

Lý lẽ trong lập luận

Những kết luận không chứng minh, không có lý lẽ là loại lập luận quyền uy chẳng thuyết phục được ai. Tiếc thay, loại này thường thấy trong diễn đàn Quốc hội.

“Chân lý thuộc về số đông” là loại lý lẽ về số lượng. Nó loại trừ lý lẽ “ta làm theo cách của ta”. Dùng lý lẽ này, GS Hoàng Tuỵ viết: “Yếu kém nhất của nền giáo dục đại học Việt Nam hiện nay là đi lạc con đường chung của thế giới đang đi. Lạc hậu còn có thể khắc phục được nhưng lạc đường thì mãi mãi khó đuổi kịp các nước” (Sài Gòn Tiếp Thị, 14.10.2011).

Continue reading

QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG VÀNG VIỆT NAM TỪ PHẢN ỨNG CỦA THỊ TRƯỜNG ĐỐI VỚI SỰ THAY ĐỔI CỦA CÁC CHÍNH SÁCH TRONG GIAI ĐOẠN 2011 – 2013

TS. NGUYỄN ĐỨC TRUNG – Viện Nghiên cứu khoa học ngân hàng, Học viện Ngân hàng

Cùng với xu thế biến động của thế giới, thời gian gần đây, thị trường vàng Việt Nam chứng kiến một số biến động bất thường về giá cả, cơ cấu và hoạt động thị trường. Hiện tượng “vàng hóa” quay trở lại từ năm 2008 và lượng vàng dự trữ trong dân vẫn chưa thể được xác định một cách chính xác. Các cơ quan quản lý phải đối diện với nhiều thách thức khi đưa ra các chính sách và biện pháp can thiệp thị trường. Bên cạnh đó, nhiều quan điểm cho rằng vẫn tồn tại mối quan hệ khá phức tạp giữa thị trường vàng trong nước và thế giới cũng như thị trường vàng với thị trường ngoại tệ. Trước tình hình trên, bài nghiên cứu này tập trung vào nội dung “Phân tích và đo lường các tác động của các chính sách quản lý thị trường vàng giai đoạn 2011-2015 đối với thị trường vàng Việt Nam cũng như việc đảm bảo thực hiện các mục tiêu đề ra của cơ quan quản lý vĩ mô”.

Xét dọc theo chiều dài lịch sử, giai đoạn 2011 – 2013 có thể coi như mốc thời gian quan trọng nhất đối với hoàn chỉnh các chính sách về quản lý thị trường vàng của Việt Nam. Cụ thể, năm 2011, NHNN chính thức ban hành Thông tư 11/2011/TT-NHNN (về việc chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng của TCTD) với mục tiêu loại trừ vàng khỏi hệ thống tín dụng và không cho phép sử dụng nó làm phương tiện dẫn vốn. Theo đó, kể từ 01/05/2011, các TCTD không được thực hiện cho vay, huy động vốn bằng vàng, mà chỉ được phát hành chứng chỉ ngắn hạn bằng vàng để chi trả theo yêu cầu của khách hàng và hoạt động này cũng sẽ chấm dứt vào 01/05/2012. Tiếp đó, Nghị định 95/2011/NÐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 202/2004/NÐ-CP ngày 10/12/2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng được ban hành (theo đó, tăng tất cả các mức phạt đối với các vi phạm về hoạt động kinh doanh vàng). Năm 2012, Nghị định số 24/2012/NÐ-CP ngày 03/04/2012 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng và Thông tư số 16/2012/TT-NHNN ngày 25/5/2012 hướng dẫn một số điều của Nghị định 24 đã được ban hành với mục tiêu đảm bảo sự ổn định và minh bạch của thị trường cũng như việc quản lý thị trường vàng đi kèm với quản lý các biến số kinh tế vĩ mô như tỷ giá và lạm phát. Năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 16/2013/QÐ-TTg, NHNN ban hành Thông tư 06/2013/TT-NHNN, Quyết định 563/QÐ-NHNN nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý trong việc mua bán vàng miếng, là tiền đề cho các giải pháp bình ổn thị trường vàng trong nước thông qua việc bình ổn cung cầu.

Vậy, thị trường đã phản ứng như thế nào khi các văn bản pháp quy trên đã thực sự có hiệu lực?

1. Thị trường vàng trong nước dần hướng tới sự ổn định mặc dù giá vàng thế giới biến động mạnh

Ngày 29/04/2011, NHNN ban hành Thông tư số 11/2011/TT-NHNN quy định về chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng của tổ chức tín dụng. Theo Thông tư số 11/2011/TT-NHNN, TCTD không được thực hiện huy động và cho vay vốn bằng vàng đối với khách hàng và TCTD. Ðây là một bước đi quan trọng trong việc hạn chế tình trạng “vàng hóa” nền kinh tế trước khi chuyển hoàn toàn quan hệ huy động, cho vay vốn bằng vàng sang quan hệ mua bán. Giải pháp trên đã phát huy tác dụng đáng kể khi tình trạng người dân đổ xô đi mua vàng trước những đợt tăng giá vàng trong và ngoài nước được hạn chế dần. Do vậy, biến động giá vàng trong nước trong thời kỳ này tương đối ổn định trước những đợt tăng mạnh của giá vàng thế giới (chi tiết có thể thấy khá rõ qua biểu đồ 1a).

Continue reading

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ TÀI SẢN KHI TUYÊN BỐ KHÔNG CÔNG NHẬN LÀ VỢ CHỒNG

THS. PHAN THỊ VÂN HƯƠNG – Tòa Dân sự TANDTC

Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 (Luật HN & GĐ) và hướng dẫn tại Mục 2 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã quy định trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không được pháp luật thừa nhận là hôn nhân hợp pháp. Tại mục 5.4.1.4, khoản 5, điểm C, phần thứ 3 của “Sổ tay Thẩm phán” cũng nêu rất rõ văn bản án dụng và các trường hợp không được công nhận là vợ chồng. Luật HN & GĐ có chương III quy định về quan hệ giữa vợ và chồng (trong đó có quy định về chế độ tài sản chung vợ chồng, việc đại diện cho nhau, trách nhiệm liên đới của một bên đối với giao dịch do bên kia thực hiện, tài sản riêng…) và chương X quy định về giải quyết các vấn đề về ly hôn (con cái, tài sản…).

Tuy nhiên, giải quyết các vấn đề về tài sản đối với trường hợp hôn nhân không hợp pháp (hủy hôn nhân trái pháp luật, không công nhận là vợ chồng) thì lại chỉ được quy định tại điểm c mục 3 Nghị quyết số 35/2000/QH ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình (Nghị Quyết 35/2000/QH10): “Kể từ ngày 01 tháng 1 năm 2001 trở đi, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 của Nghị quyết này, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu cóyêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng;nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Tòa án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết”. Điều 17 Luật HN & GĐ quy định về hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật như sau: “…3. Tài sản được giải quyết theo nguyên tắc tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó; tài sản chung được chia theo thỏa thuận của các bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết, có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên; ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và con”.

Thông qua công tác Giám đốc thẩm các vụ án dân sự, chúng tôi thấy rằng các Tòa án địa phương đã vận dụng pháp luật tương đối tốt để xác định hôn nhân hợp pháp (công nhận thuận tình ly hôn hoặc cho ly hôn) hay hủy hôn nhân trái pháp luật, không công nhận là vợ chồng; việc áp dụng các quy định của Luật HN & GĐ khi giải quyết các vụ án ly hôn (xác định tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung, nợ riêng…) là tương đối tốt. Tuy nhiên, đối với các vụ án hủy hôn nhân trái pháp luật, không công nhận hôn nhân hợp pháp lại rất lúng túng khi phải giải quyết các vấn đề tranh chấp về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung, nợ riêng. Nhiều bản án phần xét thấy có lập luận không công nhận là vợ chồng, nhưng vẫn sử dụng cụm từ vợ chồng, ly hôn, thời kỳ hôn nhân khi phân tích các sự kiện; vẫn trích dẫn điều luật quy định giải quyết về tài sản chung vợ chồng trong Luật HN & GĐ để giải quyết, hoặc không nắm rõ được các quy định của Bộ luật dân sự để xác định tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung, nợ riêng và cách phân chia để bảo đảm quy định tại Điều 17 Luật HN & GĐ.

Continue reading

PHẬN ĐÀN BÀ NGÀY NAY

 BS. NGUYỄN KHẮC VIỆT

Sinh thời, ngoài những vấn đề liên quan đến lịch sử, văn hoá, giáo dục…Đời sống phụ nữ và trẻ em cũng là chủ đề được nhà văn hoá lớn, BS. Nguyễn Khắc Viện đặc biệt quan tâm và dành nhiều tâm huyết. Nhờ tấm lòng nhân ái bao la, vốn kiến thức khoa học xã hội, tâm lý…uyên bác và phong phú, dẫu trải qua nhiều thời gian, không ít bài viết của BS. Nguyễn Khắc Viện cho đến nay vẫn còn mang tính thời sự. Bài Phận đàn bà ngày nay được BS. Nguyễn Khắc Viện viết từ thập kỷ 60, thế kỷ trước là một thí dụ điển hình.

                         Đau đớn thay phận đàn bà
                                                                  Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung

                                                   (Kiều – Nguyễn Du)

Thế nào là phận? Phận đàn ông, phận đàn bà, phận làm con, làm tôi, làm vua; đó là cái phận mà cuộc sống trong xã hội dành cho mỗi người. Có thân phận, bổn phận, danh phận, chức phận, phận sang, phận hèn, và nếu có ngẫu nhiên chen vào là số phận.

Phải chăng Nguyễn Du đã đúc kết với hai câu thơ cái phận khổ đau của đàn bà trong xã hội cũ, của mọi người phụ nữ xưa? Cái phận đàn bà xưa là phận của một con người suốt đời là vị thành niên, làm con, làm vợ, làm mẹ để phục vụ cha, chồng, con. Mà không riêng gì ở các nước phương Đông hay Nho giáo; ở Đức ngày xưa người ta cũng chỉ giao phó cho đàn bà ba nhiệm vụ, với khẩu hiệu 3k đó là: Kinder (con), Kuche (bếp) và Kirche (nhà thờ). Không có phận làm công dân, giữa làng, giữa nước. Đàn bà cũng không được làm linh mục, giáo hoàng.

Tôi không bàn đến cái khổ cực của người đàn bà nhà nghèo chịu hai tầng áp bức bóc lột; người đàn bà trung lưu con nhà khá giả, như cô Kiều, cô Vân thì sao? Kiều thì khổ, Vân thì không. Vân rất an phận làm người đàn bà, cả một nền giáo dục, lễ nghi tín ngưỡng đã tạo cho Vân một tâm lý an phận, gặp được bố mẹ nhân từ, chồng thành đạt, con ngoan là thoả mãn không ước mơ gì hơn.

Vì Vân không có tài như Kiều, chắc học hành cũng không được bao nhiêu. Xã hội cũ phân chia phần, xếp ghế đâu đấy cho mỗi người, ai chấp nhận cái tôn ti trật tự ấy là sống yên ổn, không dằn vặt, trăn trở. Chỉ có những người đàn bà có học, có tài mới khổ, mà phải thốt lên

Thân này giả sử làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu?

(Hồ Xuân Hương)

Continue reading

GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM CHẬM CẢI TỔ

NGUYỄN THIỆN TỐNG 1

Tóm tắt

Giáo dục đại học Việt Nam đã không đổi mới nhanh chóng để đáp ứng và hỗ trợ kịp thời cho giai đoạn phát triển nhanh về kinh tế xã hội vừa qua. Giáo dục đại học Việt Nam hầu như không phát triển trong thập niên 1980 vì ngân sách cho giáo dục đại học miễn phí rất eo hẹp. Sau khi các đại học được thu học phí, số lượng sinh viên đại học Việt Nam trong thập niên 1990 gia tăng đột biến lên 5,6 lần với tốc độ ào ạt gần 20% mỗi năm. Hậu quả là chất lượng giảm sút hết sức trầm trọng. Trong 12 năm vừa qua, số lượng sinh viên tăng 2,4 lần với tốc độ bình quân 8,4% mỗi năm, trong khi các điều kiện về đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất – kỹ thuật chưa phát triển đủ để bảo đảm chất lượng đào tạo.

Nhiều vấn đề của giáo dục đại học có nguồn gốc từ sự thiết hụt trầm trọng nguồn tài chánh và quyền tự trị đại học. Học phí là nguồn thu đáng kể cho giáo dục đại học. Ở Việt Nam nguồn thu từ học phí chiếm 40% tổng thu của các trường đại học công lập. Vấn đề khiếm dụng và thất nghiệp trí thức lại càng trầm trọng ở Việt Nam khi cơ cấu tổ chức giáo dục đại học và chương trình đào tạo lạc hậu không phù hợp cho tình trạng đổi mới kinh tế và xã hội. Bằng chứng là sự cách biệt giữa khả năng chuyên môn và ngành nghề của những người tốt nghiệp đại học với nhu cầu kỹ năng mới của thị trường.

“Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020”chưa đưa ra biện pháp giải quyết được mâu thuẫn giữa phát triển số lượng với nâng cao chất lượng. Vì thế cần phân tích để thấy rõ rằng cuộc khủng hoảng kép về số lượng và chất lượng của giáo dục đại học nước ta kéo dài trong hơn hai thập kỷ qua có nguyên nhân chủ yếu ở việc tổ chức quản lý giáo dục đại học.

Nhược điểm lớn nhất về tổ chức quản lý của hệ thống giáo dục đại học là sự phân tán trách nhiệm quản lý cho qua nhiều bộ và nhiều tỉnh thành chủ quản. Việc chia cắt các nhiệm vụ quản lý nhà nước về giáo dục đại học giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo với các bộ ngành khác đã làm cho việc quản lý nhà nước đối với hệ thống giáo dục chồng chéo, phân tán, thiếu thống nhất. Do đó cần bải bỏ cơ chế Bộ chủ quản đối với các cơ sở giáo dục đại học.

Continue reading

BÀN THÊM VỀ mối quan hệ văn hoá và văn minh

PGS.TS. BÙI ĐÌNH PHONG

Sự phát triển của một quốc gia ở bất kỳ thời đại nào đều có dấu ấn khai sáng của văn hóa. Không phải văn minh, mà chính văn hóa mới thật sự là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội; là sức mạnh nội sinh, nguồn lực xã hội to lớn. Văn hóa thấm sâu vào quá trình phát triển, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội.

Ở phương Đông, từ “văn hóa” đã có trong đời sống ngôn ngữ khá sớm. Người sử dụng từ “văn hóa” sớm nhất có lẽ là Lưu Hướng (năm 776 tr. CN), thời Tây Hán với nghĩa như một phương thức giáo hóa con người, đối lập với vũ lực. Phương Đông bàn về văn hóa nghiêng về cái đẹp, cái giá trị (văn là vẻ đẹp, hóa là trở thành): những gì trở thành cái đẹp, cái giá trị, cái nhân bản là văn hóa. Còn từ “văn minh” được hiểu văn là cái đẹp, minh là sáng, chỉ tia sáng của đạo đức, biểu hiện ở chính trị, pháp luật, văn học, nghệ thuật.

Ở phương Tây, từ “văn hóa” xuất phát từ gốc latinh là chữ cultus animi là trồng trọt tinh thần (tiếng Anh, Pháp là culture). Theo đó, văn hóa được hiểu với hai khía cạnh: thích ứng, khai thác tự nhiên và giáo dục, đào tạo cá nhân hay cộng đồng để họ xa rời trạng thái nguyên sơ, không còn là con vật tự nhiên và có được những phẩm chất tốt đẹp. Còn từ “văn minh” có từ căn gốc la tinh là civitas  (tiếng Anh, Pháp là civilisation) với nghĩa gốc là đô thị, thành phố và các nghĩa phái sinh là thị dân, công dân. Nói chung khái niệm văn minh có nhiều cách hiểu, chẳng hạn để chỉ sự sáng tạo văn hóa hoặc theo nghĩa tổ chức xã  hội bởi các biện pháp kỹ thuật cải thiện, xếp đặt hợp lý tiện lợi cho cuộc sống của con người. Theo F.Ăngghen, văn minh là chính trị khoanh văn hóa lại và sợi dây liên kết văn minh là Nhà nước.

Tuy vậy, việc xác định và sử dụng các khái niệm văn hóa, văn minh không đơn giản. Vẫn còn sự lẫn lộn hoặc sử dụng đồng nghĩa hai thuật ngữ để chỉ toàn bộ sự sáng tạo và các tập quán tinh thần và vật chất riêng cho các tập đoàn người. Riêng thuật ngữ văn hóa, các nhà nhân loại học thế kỷ XIX sử dụng gần như khái niệm văn minh, theo đó văn hóa được hiểu theo tiêu chuẩn trí lực, có văn hóa từ trình độ thấp nhất đến cao nhất. ở thế kỷ XX, văn hóa không xét ở mức độ thấp cao mà ở góc độ khác biệt. Cũng có quan điểm cho rằng “văn hóa là một quan hệ. Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại. Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân khác”.

Continue reading

BÀN THÊM VỀ MỐI QUAN HỆ VĂN HÓA VÀ VĂN MINH

PGS.TS. BÙI ĐÌNH PHONG

Sự phát triển của một quốc gia ở bất kỳ thời đại nào đều có dấu ấn khai sáng của văn hóa. Không phải văn minh, mà chính văn hóa mới thật sự là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội; là sức mạnh nội sinh, nguồn lực xã hội to lớn. Văn hóa thấm sâu vào quá trình phát triển, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội.

Ở phương Đông, từ “văn hóa” đã có trong đời sống ngôn ngữ khá sớm. Người sử dụng từ “văn hóa” sớm nhất có lẽ là Lưu Hướng (năm 776 tr. CN), thời Tây Hán với nghĩa như một phương thức giáo hóa con người, đối lập với vũ lực. Phương Đông bàn về văn hóa nghiêng về cái đẹp, cái giá trị (văn là vẻ đẹp, hóa là trở thành): những gì trở thành cái đẹp, cái giá trị, cái nhân bản là văn hóa. Còn từ “văn minh” được hiểu văn là cái đẹp, minh là sáng, chỉ tia sáng của đạo đức, biểu hiện ở chính trị, pháp luật, văn học, nghệ thuật.

Ở phương Tây, từ “văn hóa” xuất phát từ gốc latinh là chữ cultus animi là trồng trọt tinh thần (tiếng Anh, Pháp là culture). Theo đó, văn hóa được hiểu với hai khía cạnh: thích ứng, khai thác tự nhiên và giáo dục, đào tạo cá nhân hay cộng đồng để họ xa rời trạng thái nguyên sơ, không còn là con vật tự nhiên và có được những phẩm chất tốt đẹp. Còn từ “văn minh” có từ căn gốc la tinh là civitas  (tiếng Anh, Pháp là civilisation) với nghĩa gốc là đô thị, thành phố và các nghĩa phái sinh là thị dân, công dân. Nói chung khái niệm văn minh có nhiều cách hiểu, chẳng hạn để chỉ sự sáng tạo văn hóa hoặc theo nghĩa tổ chức xã  hội bởi các biện pháp kỹ thuật cải thiện, xếp đặt hợp lý tiện lợi cho cuộc sống của con người. Theo F.Ăngghen, văn minh là chính trị khoanh văn hóa lại và sợi dây liên kết văn minh là Nhà nước.

Tuy vậy, việc xác định và sử dụng các khái niệm văn hóa, văn minh không đơn giản. Vẫn còn sự lẫn lộn hoặc sử dụng đồng nghĩa hai thuật ngữ để chỉ toàn bộ sự sáng tạo và các tập quán tinh thần và vật chất riêng cho các tập đoàn người. Riêng thuật ngữ văn hóa, các nhà nhân loại học thế kỷ XIX sử dụng gần như khái niệm văn minh, theo đó văn hóa được hiểu theo tiêu chuẩn trí lực, có văn hóa từ trình độ thấp nhất đến cao nhất. ở thế kỷ XX, văn hóa không xét ở mức độ thấp cao mà ở góc độ khác biệt. Cũng có quan điểm cho rằng “văn hóa là một quan hệ. Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại. Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân khác”.

Continue reading

TẬP TỤC TRINH TIẾT: Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường

 PHAN CẨM THƯỢNG

Năm 2013, vẫn có những đại gia dù đã qua nhiều đời vợ, vẫn tuyên bố chỉ lấy “gái trinh”, đủ để thấy sự ám ảnh của hai chữ “trinh tiết” lên đời sống của người Việt như thế nào.

Khi khảo sát đời sống của các sắc tộc trong nước, tôi (Phan Cẩm Thượng) nhận thấy dường như chỉ có người Kinh (Việt) trong khoảng 500 năm qua đề cập nhiều đến vấn đề trinh tiết của người phụ nữ. Các sắc tộc khác không có những quy định ngặt nghèo về chuyện này. Họ có những tập quán khác để giữ gìn bản sắc và đời sống gia đình tốt đẹp, và quan trọng nhất là đời sống sau lễ thành hôn, hầu như không có gia đình nào sứt mẻ cả, chuyện ngoại tình và ly hôn cũng vô cùng hiếm hoi. Điều này còn kéo dài đến những năm 1980, và ngày nay đương nhiên có thay đổi.

Việc nêu cao đức hạnh người phụ nữ ở đâu cũng thế thôi, nhưng trở thành lý thuyết, quy chế có lẽ chủ yếu bởi Nho giáo, với các yêu cầu về thân phận của từng giai tầng trong xã hội. Những sắc tộc không du nhập Nho giáo có quan niệm khác, đời sống cởi mở và chặt chẽ theo chiều hướng khác, ví dụ các tộc người Thái (bao gồm cả người Thái Lan, Lào, người Thái Việt Nam, người Lự, người Tày, Nùng… những tộc nói tiếng Thái – Tày), các sắc tộc Tây Nguyên không biết đến Tam giáo Nho Lão Phật. Chúng tôi từng nói chuyện với các già làng người Cơ Tu, họ nói rằng trước 1975, ở đây không có tôn giáo, hay bất cứ đạo nào, ngoài tín ngưỡng bản địa sơ khai, đời sống đó không vì thế mà kém văn minh hơn chỗ khác.

Đọc trong lịch sử, vấn đề trinh tiết cũng rất ít được đề cập ở xã hội thời Lý Trần, ngay cả vấn đề chính thất và thứ thất (vợ cả và vợ lẽ) cũng rất lơ mơ. Ví dụ như vua Đinh Tiên Hoàng lập tới bốn bà hoàng hậu. Cho đến tận thế kỷ 17, khi vua Lê Thần Tông lập bà Trịnh Thị Ngọc Trúc làm chính cung hoàng hậu, trước đó bà đã từng có chồng và bốn con, thì cũng là điều vượt ra khỏi các quy ước xã hội. Có thể coi những quy chế và tập tục về thân phận người phụ nữ có từ thời Lê sơ thế kỷ 15 khi Nho giáo có địa vị độc tôn trong tư tưởng thời đại. Cuốn sáchThọ Mai gia lễ được biên soạn trong thế kỷ 17 – 18, dựa theo Chu Công gia lễ bên Tầu, chứng tỏ các quy chế chính thức về tang ma, hôn nhân du nhập vào làng xã cũng khá muộn.

Continue reading

TẬP TỤC TRINH TIẾT: CHỮ TRINH KIA CŨNG CÓ BA BẢY ĐƯỜNG

 PHAN CẨM THƯỢNG

Năm 2013, vẫn có những đại gia dù đã qua nhiều đời vợ, vẫn tuyên bố chỉ lấy “gái trinh”, đủ để thấy sự ám ảnh của hai chữ “trinh tiết” lên đời sống của người Việt như thế nào.

Khi khảo sát đời sống của các sắc tộc trong nước, tôi (Phan Cẩm Thượng) nhận thấy dường như chỉ có người Kinh (Việt) trong khoảng 500 năm qua đề cập nhiều đến vấn đề trinh tiết của người phụ nữ. Các sắc tộc khác không có những quy định ngặt nghèo về chuyện này. Họ có những tập quán khác để giữ gìn bản sắc và đời sống gia đình tốt đẹp, và quan trọng nhất là đời sống sau lễ thành hôn, hầu như không có gia đình nào sứt mẻ cả, chuyện ngoại tình và ly hôn cũng vô cùng hiếm hoi. Điều này còn kéo dài đến những năm 1980, và ngày nay đương nhiên có thay đổi.

Việc nêu cao đức hạnh người phụ nữ ở đâu cũng thế thôi, nhưng trở thành lý thuyết, quy chế có lẽ chủ yếu bởi Nho giáo, với các yêu cầu về thân phận của từng giai tầng trong xã hội. Những sắc tộc không du nhập Nho giáo có quan niệm khác, đời sống cởi mở và chặt chẽ theo chiều hướng khác, ví dụ các tộc người Thái (bao gồm cả người Thái Lan, Lào, người Thái Việt Nam, người Lự, người Tày, Nùng… những tộc nói tiếng Thái – Tày), các sắc tộc Tây Nguyên không biết đến Tam giáo Nho Lão Phật. Chúng tôi từng nói chuyện với các già làng người Cơ Tu, họ nói rằng trước 1975, ở đây không có tôn giáo, hay bất cứ đạo nào, ngoài tín ngưỡng bản địa sơ khai, đời sống đó không vì thế mà kém văn minh hơn chỗ khác.

Đọc trong lịch sử, vấn đề trinh tiết cũng rất ít được đề cập ở xã hội thời Lý Trần, ngay cả vấn đề chính thất và thứ thất (vợ cả và vợ lẽ) cũng rất lơ mơ. Ví dụ như vua Đinh Tiên Hoàng lập tới bốn bà hoàng hậu. Cho đến tận thế kỷ 17, khi vua Lê Thần Tông lập bà Trịnh Thị Ngọc Trúc làm chính cung hoàng hậu, trước đó bà đã từng có chồng và bốn con, thì cũng là điều vượt ra khỏi các quy ước xã hội. Có thể coi những quy chế và tập tục về thân phận người phụ nữ có từ thời Lê sơ thế kỷ 15 khi Nho giáo có địa vị độc tôn trong tư tưởng thời đại. Cuốn sáchThọ Mai gia lễ được biên soạn trong thế kỷ 17 – 18, dựa theo Chu Công gia lễ bên Tầu, chứng tỏ các quy chế chính thức về tang ma, hôn nhân du nhập vào làng xã cũng khá muộn.

Continue reading

TÒA ÁN ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN CÓ PHÙ HỢP QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT?

THS. THÁI CHÍ BÌNH – Tòa án nhân dân Thị xã Châu Đốc, An Giang

Ông N.V.T. và bà L.T.C đang xây nhà tại số 10, đường Nguyễn Hữu Cảnh, khóm A, phường L, thị xã T, tỉnh B (theo Giấy phép xây dựng số 322/2012/GPXD ngày 30/7/2012 do Ủy ban nhân dân thị xã T cấp) nhưng bị phần mái hiên, máng xối, rèm cửa của nhà ông T.H.A tại số 12, đường Nguyễn Hữu Cảnh (cạnh nhà ông T., bà C.) lấn sang phần đất thuộc quyền sử dụng của ông T., bà C. nên ảnh hưởng đến việc xây nhà của ông T., bà C. Mặc dù, đã được ông T., bà C. yêu cầu khắc phục nhiều lần nhưng ông A. không thực hiện. Phần đất mà ông T., bà C. được cấp phép xây dựng đã được Ủy ban nhân dân thị xã T. cấp quyền sử dụng cho ông T., bà C. vào năm 2006. Do đó, vào ngày 10/11/2012, ông T., bà C. khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã T buộc ông A phải cắt bớt phần máng xối, mái hiên, rèm cửa lấn sang phần đất thuộc quyền sử dụng của ông T., bà C.

Ông A. không chấp nhận yêu cầu của ông T., bà C. vì cho rằng giữa nhà của ông T., bà C. với nhà ông A có 01 con hẻm sử dụng chung với chiều ngang 0,6m, chiều dài chạy dọc theo phần đất thuộc quyền sử dụng của 02 nhà (mỗi nhà sử dụng chiều ngang 0,3m). Khi ông T., bà C. làm thủ cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2012 đã xin cấp quyền sử dụng đối với phần con hẻm chung này. Nhà của ông A đã cất trước thời điểm ông T., bà C. được cấp quyền sử dụng và khi ông T., bà C. làm thủ tục cấp quyền sử dụng đất ông A. không biết, không ký tứ cận cho ông T., bà C. cho nên ông A. không chấp nhận yêu cầu kiện của ông T., bà C.

Trong quá trình giải quyết vụ án, do ông A. yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân thị xã T cấp cho ông T., bà C. vào năm 2006 nên Tòa án đã ra Thông báo yêu cầu Ủy ban nhân dân thị xã T tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 32a Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong thời gian Tòa án thụ lý giải quyết, do đã thuê nhân công và không thể chờ Tòa án giải quyết nên ông T., bà C. đã xây dựng hoàn thành căn nhà của mình. Sau khi xây dựng nhà xong, ông T., bà C. đến Tòa án rút lại đơn khởi kiện vì ông A. không còn cản trở việc ông T., bà C. xây dựng nhà.

Do ông A không có yêu cầu phản tố nên Tòa án đã áp dụng điểm c khoản 1 Điều 192, khoản 3 Điều 193, Điều 194 và khoản 2 Điều 245 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án mà không đề cập gì đến yêu cầu của ông A. đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho ông T., bà C.

Continue reading

Tính đối kháng của các phương tiện phòng vệ của bên có nghĩa vụ trả nợ TRONG GIAO DỊCH THẾ CHẤP QUYỀN ĐÒI NỢ

TS. VŨ THỊ HỒNG YẾN – Khoa Pháp luật dân sự, Đại học Luật Hà Nội

THS. BÙI ĐỨC GIANG – Công ty Luật Audier and Partners Vietnam LLC

Theo quy định hiện hành, sau khi quyền đòi nợ được thế chấp, bên có nghĩa vụ trả nợ phải thanh toán cho bên nhận thế chấp khi bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ được bảo đảm (điểm a, khoản 2, điều 22, Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm được bổ sung, sửa đổi năm 2012 – Nghị định 163). Khi được yêu cầu thanh toán, bên có nghĩa vụ trả nợ có thể sẽ viện ra một số căn cứ (hợp đồng giao dịch liên quan đến quyền đòi nợ được thế chấp bị thay đổi, chấm dứt hay hủy bỏ, bù trừ nghĩa vụ, v.v…), hay còn gọi là những phương tiên phòng vệ (defences) để từ chối thanh toán hay chỉ thanh toán một phần khoản nợ.

Tuy vậy, pháp luật về giao dịch bảo đảm còn chưa đề cập đến các trường hợp này. Vấn đề đặt ra là liệu các phương tiện phòng vệ này của bên có nghĩa vụ trả nợ có giá trị pháp lý hay nói cách khác có tính đối kháng với bên nhận thế chấp hay không? Trong thực tế, ngay cả các ngân hàng thương mại với tư cách là bên nhận thế chấp cũng còn khá lúng túng trước vấn đề này[2]. Bài viết sẽ thử đi tìm lời giải trong các quy định pháp luật hiện hành và đề xuất một số gợi ý cũng như giải pháp thực tiễn.

1. Phân loại các phương tiện phòng vệ mà bên có nghĩa vụ trả nợ có thể áp dụng

Như đã nêu ở phần trên, các quy định về thế chấp quyền đòi nợ của Bộ luật dân sự và Nghị định 163 vẫn còn bỏ ngỏ vấn đề tính đối kháng đối với bên nhận thế chấp của các phương tiên phòng vệ mà bên có nghĩa vụ trả nợ có thể đưa ra để từ chối thanh toán hay chỉ thanh toán một phần khoản nợ cho bên nhận thế chấp. Trên cơ sở mối quan hệ với hợp đồng làm phát sinh quyền đòi nợ, có thể chia các phương tiện phòng vệ mà bên có nghĩa vụ trả nợ có thể viện ra để từ chối thanh toán hoặc giảm nghĩa vụ thanh toán của mình làm hai loại : các căn cứ gắn liền với quyền đòi nợ và các căn cứ tách biệt với quyền đòi nợ.

1.1. Các căn cứ gắn liền với quyền đòi nợ

Các căn cứ gắn liền với quyền đòi nợ là các căn cứ bắt nguồn trực tiếp từ hợp đồng làm phát sinh quyền đòi nợ. Chúng được dẫn xuất từ quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng.

Liên quan đến việc giao kết hợp đồng, đó là các căn cứ làm hợp đồng vô hiệu mà bên có nghĩa vụ trả nợ có thể viện ra được quy định tại điều 122 và điều 127 Bộ luật dân sự. Nếu bên có nghĩa vụ trả nợ khởi kiện đến Tòa án tuyên bố hợp đồng đã giao kết vô hiệu do đã vi phạm các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thì sẽ có nguy cơ ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ. Theo quy định của điều 137 Bộ luật dân sự, một trong những hậu quả pháp lý của hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu là không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm giao kết; do vậy, quyền đòi nợ được phát sinh từ hợp đồng đó được coi như chưa phát sinh. Điều này kéo theo hậu quả là đối tượng của hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ không còn và bên nhận thế chấp rơi vào tình trạng rủi ro coi như cho vay mà không có tài sản bảo đảm[3].

Continue reading

TÍNH ĐỐI KHÁNG CỦA CÁC PHƯƠNG TIỆN PHÒNG VỆ CỦA BÊN CÓ NGHĨA VỤ TRẢ NỢ TRONG GIAO DỊCH THẾ CHẤP QUYỀN ĐÒI NỢ

TS. VŨ THỊ HỒNG YẾN – Khoa Pháp luật dân sự, Đại học Luật Hà Nội

THS. BÙI ĐỨC GIANG – Công ty Luật Audier and Partners Vietnam LLC

Theo quy định hiện hành, sau khi quyền đòi nợ được thế chấp, bên có nghĩa vụ trả nợ phải thanh toán cho bên nhận thế chấp khi bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ được bảo đảm (điểm a, khoản 2, điều 22, Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm được bổ sung, sửa đổi năm 2012 – Nghị định 163). Khi được yêu cầu thanh toán, bên có nghĩa vụ trả nợ có thể sẽ viện ra một số căn cứ (hợp đồng giao dịch liên quan đến quyền đòi nợ được thế chấp bị thay đổi, chấm dứt hay hủy bỏ, bù trừ nghĩa vụ, v.v…), hay còn gọi là những phương tiên phòng vệ (defences) để từ chối thanh toán hay chỉ thanh toán một phần khoản nợ.

Tuy vậy, pháp luật về giao dịch bảo đảm còn chưa đề cập đến các trường hợp này. Vấn đề đặt ra là liệu các phương tiện phòng vệ này của bên có nghĩa vụ trả nợ có giá trị pháp lý hay nói cách khác có tính đối kháng với bên nhận thế chấp hay không? Trong thực tế, ngay cả các ngân hàng thương mại với tư cách là bên nhận thế chấp cũng còn khá lúng túng trước vấn đề này[2]. Bài viết sẽ thử đi tìm lời giải trong các quy định pháp luật hiện hành và đề xuất một số gợi ý cũng như giải pháp thực tiễn.

1. Phân loại các phương tiện phòng vệ mà bên có nghĩa vụ trả nợ có thể áp dụng

Như đã nêu ở phần trên, các quy định về thế chấp quyền đòi nợ của Bộ luật dân sự và Nghị định 163 vẫn còn bỏ ngỏ vấn đề tính đối kháng đối với bên nhận thế chấp của các phương tiên phòng vệ mà bên có nghĩa vụ trả nợ có thể đưa ra để từ chối thanh toán hay chỉ thanh toán một phần khoản nợ cho bên nhận thế chấp. Trên cơ sở mối quan hệ với hợp đồng làm phát sinh quyền đòi nợ, có thể chia các phương tiện phòng vệ mà bên có nghĩa vụ trả nợ có thể viện ra để từ chối thanh toán hoặc giảm nghĩa vụ thanh toán của mình làm hai loại : các căn cứ gắn liền với quyền đòi nợ và các căn cứ tách biệt với quyền đòi nợ.

1.1. Các căn cứ gắn liền với quyền đòi nợ

Các căn cứ gắn liền với quyền đòi nợ là các căn cứ bắt nguồn trực tiếp từ hợp đồng làm phát sinh quyền đòi nợ. Chúng được dẫn xuất từ quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng.

Liên quan đến việc giao kết hợp đồng, đó là các căn cứ làm hợp đồng vô hiệu mà bên có nghĩa vụ trả nợ có thể viện ra được quy định tại điều 122 và điều 127 Bộ luật dân sự. Nếu bên có nghĩa vụ trả nợ khởi kiện đến Tòa án tuyên bố hợp đồng đã giao kết vô hiệu do đã vi phạm các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thì sẽ có nguy cơ ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ. Theo quy định của điều 137 Bộ luật dân sự, một trong những hậu quả pháp lý của hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu là không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm giao kết; do vậy, quyền đòi nợ được phát sinh từ hợp đồng đó được coi như chưa phát sinh. Điều này kéo theo hậu quả là đối tượng của hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ không còn và bên nhận thế chấp rơi vào tình trạng rủi ro coi như cho vay mà không có tài sản bảo đảm[3].

Continue reading

BÌNH LUẬN DỰ THẢO 3 LUẬT PHÁ SẢN

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC  – Chủ tịch Công ty Luật BASICO, Trọng tài viên VIAC

1. Nhận xét chung:

Về cơ bản, Dự luật đã quy định khá chi tiết, rõ ràng các vấn đề liên quan đến phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, khắc phục được những bất cập của Luật hiện hành, đặc biệt là việc thay đổi thời điểm ra quyết định tuyên bố phá sản (quay trở lại như Luật năm 1993) và đặt ra một chức danh hoàn toàn mới là Quản tài viên, đóng vai trò quan trọng trong suốt quá trình xử lý vụ phá sản.

2. Về tên Luật:

2.1. Dự thảo Luật giữ nguyên tên gọi là Luật Phá sản như Luật hiện hành năm 2004 là không hợp lý. Vì Luật chỉ quy định về việc phá sản doanh nghiệp và hợp tác xã, chứ không cho phép phá sản các chủ thể khác. Do đó, không thể đặt tên mở rộng hết cỡ cho mọi đối tượng không thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật phá sản.

2.2. Cũng không nên đặt tên là Luật Phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã. Vì việc đặt tên văn bản quy phạm pháp luật nói chung, các đạo luật nói riêng cần phải hết sức ngắn gọn, cô đọng, chứ không cần phải thể hiện tất cả các nội dung trong phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của văn bản. Nếu cứ yêu cầu gọi tên đầy đủ theo phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, thì thậm chí phải gọi tên là Luật Phục hồi và phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã. Trên thực tế cũng đã có khá nhiều đạo luật quy định theo hướng rút gọn này. Ví dụ, Luật Doanh nghiệp năm 2005 còn quy định cả về hộ kinh doanh (không phải là doanh nghiệp). Hay Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 (sửa đổi năm 2012), không chỉ quy định về thuế đối với doanh nghiệp, mà còn áp dụng cả đối với hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp và các tổ chức khác không phải là doanh nghiệp nhưng có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập.

2.3. Vì vậy, nếu giữ nguyên đối tượng áp dụng như Dự thảo thì đề nghị gọi tên Luật này là Luật Phá sản doanh nghiệp như Luật năm 1993. Khi nào mở rộng phạm phạm vi điều chỉnh đến tổ hợp tác, hộ gia đình và cá nhân thì mới được phép rút gọn tên gọi là Luật Phá sản.

Continue reading

Một số ý kiến trao đổi về điều kiện hình thức của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất THEO QUY ĐỊNH CỦA DỰ THẢO LUẬT ĐẤT ĐAI (SỬA ĐỔI)

THS. PHAN THỊ VÂN HƯƠNG – Tòa Dân sự, Tòa án nhân dân tối cao

1. Quy định về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Luật đất đai năm 2003 đang có hiệu lực thi hành

– Điều 106. 1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền (…) chuyển nhượng, (…) khi có các điều kiện sau đây:

a) Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

b) Đất không có tranh chấp;

….

– Điều 127. Trình tự, thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất:

1. Việc nộp hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất được quy định như sau:

a) Hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất nộp tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất; trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất tại nông thôn thì nộp tại Uỷ ban nhân dân xã nơi có đất để chuyển cho văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất;

b) Hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất gồm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của công chứng nhà nước; trường hợp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân thì được lựa chọn hình thức chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất.

Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2003 quy định:

– Điều 146 “ 4. Hợp đồng chuyển nhượng (…) có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất

– Điều 148  : “ …Hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất gồm có:

a) Hợp đồng chuyển nh­ượng quyền sử dụng đất;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai (nếu có)…”

Như vậy, Luật Đất đai quy định hình thức của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là phải bằng văn bản, được công chứng hoặc chứng thực và được đăng ký tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất mới phát sinh hiệu lực; đồng thời quy định đất phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSD) mới được thực hiện việc chuyển nhượng nhưng Nghị định hướng dẫn đã quy định mở rộng hơn các trường hợp được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất nhưng chưa được cấp GCNQSD đất cho phù hợp thực tiễn vì việc cấp GCNQSD đất chưa được thực hiện xong trên cả nước.

Continue reading

MỘT SỐ Ý KIẾN TRAO ĐỔI VỀ ĐIỀU KIỆN HÌNH THỨC CỦA HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT THEO QUY ĐỊNH CỦA DỰ THẢO LUẬT ĐẤT ĐAI (SỬA ĐỔI)

THS. PHAN THỊ VÂN HƯƠNG – Tòa Dân sự, Tòa án nhân dân tối cao

1. Quy định về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Luật đất đai năm 2003 đang có hiệu lực thi hành

– Điều 106. 1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền (…) chuyển nhượng, (…) khi có các điều kiện sau đây:

a) Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

b) Đất không có tranh chấp;

….

– Điều 127. Trình tự, thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất:

1. Việc nộp hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất được quy định như sau:

a) Hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất nộp tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất; trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất tại nông thôn thì nộp tại Uỷ ban nhân dân xã nơi có đất để chuyển cho văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất;

b) Hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất gồm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của công chứng nhà nước; trường hợp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân thì được lựa chọn hình thức chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất.

Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2003 quy định:

– Điều 146 “ 4. Hợp đồng chuyển nhượng (…) có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất

– Điều 148  : “ …Hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất gồm có:

a) Hợp đồng chuyển nh­ượng quyền sử dụng đất;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai (nếu có)…”

Như vậy, Luật Đất đai quy định hình thức của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là phải bằng văn bản, được công chứng hoặc chứng thực và được đăng ký tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất mới phát sinh hiệu lực; đồng thời quy định đất phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSD) mới được thực hiện việc chuyển nhượng nhưng Nghị định hướng dẫn đã quy định mở rộng hơn các trường hợp được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất nhưng chưa được cấp GCNQSD đất cho phù hợp thực tiễn vì việc cấp GCNQSD đất chưa được thực hiện xong trên cả nước.

Continue reading

MỘT SỐ Ý KIẾN TRAO ĐỔI LIÊN QUAN ĐẾN THUẬT NGỮ “THẨM ĐỊNH/THẨM TRA CÔNG NGHỆ”

NGUYỄN VÂN ANH – Sở KH&CN Bà Rịa – Vũng Tàu

LÊ VŨ TOÀN- Trường quản lý KH&CN

ĐÀM QUANG – Sở KH&CN Thanh Hoá

HOÀNG THANH HẠNH – Học viện Tài chính

Thẩm định công nghệ nói chung và thẩm định công nghệ dự án đầu tư nói riêng là một trong nhiệm vụ trong công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực KH&CN ở cấp trung ương (Bộ KH&CN) cũng như địa phương (Sở KH&CN). Tuy nhiên, liên quan đến thuật ngữ này còn nhiều vấn đề phải bàn, nhằm tiến tới việc sử dụng nhất quán trong các văn bản quản lý nhà nước cũng như cách thức tổ chức thực hiện.

Dẫn nhập

Thuật ngữ “Thẩm định công nghệ ” được sử dụng lần đầu tiên trong văn bản quản lý nhà nước về KH&CN tại Thông tư số 1940/1997/TT-BKHCNMT ngày 15. 11.1997 của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ KH&CN) hướng dẫn thẩm định công nghệ các dự án đầu tư trong giai đoạn xem xét cấp giấy phép đầu tư (Thông tư 1940). Căn cứ xây dựng Thông tư 1940 là các Nghị định 12[1], 29[2], 42[3] – những văn bản quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài và thực hiện Điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng.

Thông tư 1940 đưa ra khái niệm: “Thẩm định công nghệ các dự án đầu tư" (gọi tắt là thẩm định công nghệ) nói trong thông tư này được hiểu là quá trình xem xét, đánh giá sự thích hợp của công nghệ đã nêu trong dự án so với nội dung và các mục tiêu của dự án đầu tư trên cơ sở các chủ trương, chính sách của Nhà nước tại thời điểm thẩm định dự án để đưa ra kiến nghị về việc cấp giấy phép đầu tư cho dự án”. Trên cơ sở Thông tư 1940, công tác thẩm định công nghệ, đã giúp ngăn chặn được nhiều công nghệ lạc hậu, ẩn mình trong các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Đồng thời, quá trình thẩm định công nghệ cũng đã giúp các nhà đầu tư trong nước lựa chọn được công nghệ mới tiên tiến hoặc thay đổi phương án công nghệ làm lợi cho chủ dự án đầu tư trong nước có khi lên đến hàng chục triệu USD. Một trong những dự án đó là Nhà máy điện Phú Mỹ thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Năm 2002, sau khi có các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật khuyến khích đầu tư trong nước, quy chế quản lý đầu tư và xây dựng có sự thay đổi bởi các Nghị định 24[4], 51[5], 52[6], đồng thời nhằm thực thi Nghị định 175[7], Thông tư 55/2002/TT-BKHCNMT ngày 23 tháng 7 năm 2002 về hướng dẫn thẩm định công nghệ và môi trường các dự án đầu tư (Thông tư 55) ra đời thay thế cho Thông tư 1940. Theo đó, khái niệm về thẩm định công nghệ và các nội dung về thẩm định công nghệ vẫn được giữ nguyên, chỉ có một số thay đổi nhỏ liên quan đến việc đánh giá ảnh hưởng của dự án đối với môi trường gắn với nội dung thẩm định môi trường dự án.

Continue reading

ĐÔI LỜI VỀ CHUYỆN MANG THAI HỘ

THS. BS HỒ MẠNH TƯỜNG – tổng thư ký hội Nội tiết sinh sản và vô sinh TP.HCM

Mang thai hộ được định nghĩa là kỹ thuật giúp người phụ nữ không có khả năng mang thai, có thể được làm mẹ với con của chính mình bằng cách lấy tinh trùng của người chồng và noãn của người vợ thụ tinh trong ống nghiệm để tạo phôi. Phôi sẽ được cấy vào tử cung một người phụ nữ khác, gọi là người mang thai hộ, để mang thai và sinh em bé. Đứa trẻ sinh ra sẽ được chuyển giao cho bố mẹ sinh học (cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ). Người mang thai hộ hoàn toàn không có quan hệ huyết thống với đứa trẻ sinh ra.

Mang thai hộ bị nghiêm cấm thực hiện tại Việt Nam từ năm 2003 theo nghị định của Chính phủ về sinh con theo phương pháp khoa học. Do nhu cầu mang thai hộ ngày càng có xu hướng tăng ở Việt Nam, việc xem xét cho phép và quản lý kỹ thuật mang thai hộ ở Việt Nam được đặt ra, cho thấy Nhà nước đã nhìn nhận một nhu cầu có thật của người dân và tìm cách đáp ứng nhu cầu này.

Điều 63b của dự thảo quy định “việc cho và nhận tinh trùng, noãn, cho và nhận phôi được thực hiện trên nguyên tắc bí mật”. Theo tôi, về cho nhận tinh trùng nên chấp nhận cả hai hình thức vô danh (bí mật) hoặc hữu danh (công khai). Trong văn hoá, phong tục của người Việt, huyết thống, dòng tộc là một yếu tố rất nhiều người quan tâm; khi một người nam không có tinh trùng, nhu cầu xin tinh trùng của người trong dòng tộc cần được xem xét. Còn bí mật trong cho nhận noãn khó có thể thực hiện vì: người cho noãn phải đi khám, xét nghiệm, tiêm thuốc và chọc hút noãn với tổng chi phí có thể lên đến 30 – 40 triệu đồng, do đó gần như khó có người tự nguyện cho noãn; do đặc tính sinh học, việc đông lạnh noãn kém hiệu quả hơn nhiều so với đông lạnh tinh trùng và đông lạnh phôi, vì vậy thường phải thụ tinh noãn với tinh trùng chồng người nhận noãn để tạo phôi, sau đó mới chuyển phôi hoặc đông lạnh phôi. Trong một số trường hợp, có thể phải thực hiện quy trình theo dõi lấy noãn và chuẩn bị tử cung cho người nhận noãn cùng giai đoạn và cùng thời điểm. Theo quy định hiện nay, người có nhu cầu nhận noãn sẽ phải tự vận động người cho noãn tự nguyện để điều trị.

Continue reading