BÁO CÁO SỐ 151/BC-BTP NGÀY 15 THÁNG 7 NĂM 2013 CỦA BỘ TƯ PHÁP VỀ TỔNG KẾT THI HÀNH BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

BỘ TƯ PHÁP

Bộ luật dân sự năm 2005 (sau đây gọi là BLDS) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 1 năm 2006) là văn bản pháp luật quan trọng, điều chỉnh một lĩnh vực rộng lớn các quan hệ xã hội trong giao lưu dân sự. Bộ luật này cũng là nền tảng pháp lý cho hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (gọi chung là quan hệ dân sự).

Qua thực tiễn thi hành, BLDS đã phát huy vai trò to lớn trong việc quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền, nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng; bảo đảm sự bình đẳng và an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự; góp phần đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Tuy nhiên trong bối cảnh đất nước bước sang giai đoạn phát triển mới cùng với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, các quan hệ dân sự đã có những thay đổi đáng kể và nhanh chóng cần có sự điều chỉnh phù hợp của pháp luật. Trong bối cảnh như vậy, BLDS đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, bổ sung.

Nắm bắt được thực trạng này, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1322/QĐ-TTg ngày 18 tháng 9 năm 2012 về việc phê duyệt Kế hoạch tổng kết thi hành BLDS. Việc tổng kết này được coi là hoạt động quan trọng nhằm đánh giá tác động của BLDS tới sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; tác động của phát triển kinh tế – xã hội đến các quan hệ dân sự và quy định của BLDS; mối liên hệ giữa BLDS với các luật, pháp lệnh, điều ước quốc tế có liên quan; những thành công, cũng như những hạn chế trong quy định và tổ chức thực hiện Bộ luật; xác định những vấn đề phát sinh trong thực tiễn và đưa ra các đề xuất, giải pháp cụ thể để xử lý các vấn đề này một cách có hiệu quả.

Trên cơ sở tổng kết thi hành BLDS ở các Bộ, ngành, tổ chức ở Trung ương; 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; ý kiến độc lập của các cơ quan, tổ chức có liên quan; các hoạt động hội thảo khoa học và các hoạt động khảo sát về đánh giá bất cập, hạn chế của BLDS, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng Báo cáo tổng kết thi hành BLDS.[1]

Phần thứ nhất

NHỮNG KẾT QUẢ ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC QUA 07 NĂM THI HÀNH BỘ LUẬT DÂN SỰ

A. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRONG THI HÀNH BỘ LUẬT DÂN SỰ

I. Trong công tác xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành Luật

Để bảo đảm BLDS đi vào thực tiễn, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 45/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2006 về việc thi hành BLDS; trong đó giao cho Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm tự mình hoặc phối hợp với cơ quan hữu quan tổ chức việc rà soát các quy định của pháp luật về dân sự hiện hành để hủy bỏ, sửa đổi, bổ sung, ban hành văn bản mới hoặc đề nghị Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội hủy bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới cho phù hợp với quy định của BLDS, đảm bảo hiệu lực của BLDS từ ngày 01 tháng 1 năm 2006.

Continue reading

BÁO CÁO SỐ 153/BC-BTP NGÀY 15 THÁNG 7 NĂM 2013 CỦA BỘ TƯ PHÁP về tổng kết thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000

BỘ TƯ PHÁP

Qua các thông tin, số liệu, đánh giá, nhận định được thể hiện trong Báo cáo tổng kết của 9 Bộ, ngành và tổ chức ở Trung ương; 62/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; ý kiến của 138 các cơ quan, tổ chức hữu quan; Báo cáo kết quả khảo sát, các tọa đàm, hội thảo khoa học, Bộ Tư pháp xây dựng Báo cáo này để tổng kết những kết quả đạt được và những bất cập, hạn chế của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000(Luật HN-GĐ năm 2000) qua thực tiễn 12 năm thi hành như sau[1]:

I. NHỮNG KẾT QUẢ ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC TRONG QUÁ TRÌNH THỰC THI LUẬT HN-GĐ NĂM 2000

1. Trong công tác xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành Luật

Trong 12 năm qua, công tác xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành Luật HN- GĐ năm 2000 đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Cụ thể là, bảo đảm Luật HN-GĐ năm 2000 thực sự đi vào cuộc sống, ngày 9/6/2000, Quốc hội khóa X đã ban hành Nghị quyết số 35/2000/QH10 về thi hành Luật này (Nghị quyết số 35/2000/QH10) trong đó đã quy định rõ trách nhiệm của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tự mình hoặc phối hợp tổ chức việc rà soát các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình hiện hành để huỷ bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới, đề nghị Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội huỷ bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới cho phù hợp với quy định của Luật này, bảo đảm hiệu lực của Luật từ ngày 01 tháng 01 năm 2001; nguyên tắc áp dụng pháp luật đối với những trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước thời điểm Luật HN-GĐ năm 2000 có hiệu lực.

Thực thi Luật HN-GĐ năm 2000 và Nghị quyết số 35/2000/QH10, Chính phủ đã ban hành nhiều Nghị định để hướng dẫn chi tiết, như: Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 quy định chi tiết thi hành Luật HN-GĐ năm 2000; Nghị định số 77/2001/NĐ-CP ngày 22/10/2001 quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10; Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27/3/2002 quy định việc áp dụng Luật HN-GĐ đối với các dân tộc thiểu số; Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật HN-GĐ về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21/7/2006 quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; Nghị định số 24/2013/NĐ-CP ngày 28/3/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật HN-GĐ về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài … Bộ Tư pháp, Bộ Y tế, Bộ Ngoại giao cùng một số Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ ban hành nhiều thông tư, thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành các Nghị định của Chính phủ về thi hành Luật HN-GĐ.

Continue reading

BÁO CÁO SỐ 153/BC-BTP NGÀY 15 THÁNG 7 NĂM 2013 CỦA BỘ TƯ PHÁP VỀ TỔNG KẾT THI HÀNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000

BỘ TƯ PHÁP

Qua các thông tin, số liệu, đánh giá, nhận định được thể hiện trong Báo cáo tổng kết của 9 Bộ, ngành và tổ chức ở Trung ương; 62/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; ý kiến của 138 các cơ quan, tổ chức hữu quan; Báo cáo kết quả khảo sát, các tọa đàm, hội thảo khoa học, Bộ Tư pháp xây dựng Báo cáo này để tổng kết những kết quả đạt được và những bất cập, hạn chế của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000(Luật HN-GĐ năm 2000) qua thực tiễn 12 năm thi hành như sau[1]:

I. NHỮNG KẾT QUẢ ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC TRONG QUÁ TRÌNH THỰC THI LUẬT HN-GĐ NĂM 2000

1. Trong công tác xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành Luật

Trong 12 năm qua, công tác xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành Luật HN- GĐ năm 2000 đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Cụ thể là, bảo đảm Luật HN-GĐ năm 2000 thực sự đi vào cuộc sống, ngày 9/6/2000, Quốc hội khóa X đã ban hành Nghị quyết số 35/2000/QH10 về thi hành Luật này (Nghị quyết số 35/2000/QH10) trong đó đã quy định rõ trách nhiệm của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tự mình hoặc phối hợp tổ chức việc rà soát các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình hiện hành để huỷ bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới, đề nghị Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội huỷ bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới cho phù hợp với quy định của Luật này, bảo đảm hiệu lực của Luật từ ngày 01 tháng 01 năm 2001; nguyên tắc áp dụng pháp luật đối với những trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước thời điểm Luật HN-GĐ năm 2000 có hiệu lực.

Thực thi Luật HN-GĐ năm 2000 và Nghị quyết số 35/2000/QH10, Chính phủ đã ban hành nhiều Nghị định để hướng dẫn chi tiết, như: Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 quy định chi tiết thi hành Luật HN-GĐ năm 2000; Nghị định số 77/2001/NĐ-CP ngày 22/10/2001 quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10; Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27/3/2002 quy định việc áp dụng Luật HN-GĐ đối với các dân tộc thiểu số; Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật HN-GĐ về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21/7/2006 quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; Nghị định số 24/2013/NĐ-CP ngày 28/3/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật HN-GĐ về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài … Bộ Tư pháp, Bộ Y tế, Bộ Ngoại giao cùng một số Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ ban hành nhiều thông tư, thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành các Nghị định của Chính phủ về thi hành Luật HN-GĐ.

Continue reading

BÌNH LUẬN VỀ VIỆC VI HIẾN CỦA DỰ THẢO LUẬT ĐẤT ĐAI

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Trọng tài viên VIAC

Với khung khổ pháp lý méo mó và rối ren như hiện trạng, thì khen rằng Dự thảo Luật Đất đai năm 2013 là tốt cũng đúng, mà chê là dở thì cũng không sai. Đã góp ý từ tổng thể đến chi ly mọi thứ nhiều rồi, nay tôi cũng chẳng muốn nhắc lại, mà chỉ đưa ra một bình luận mới nhất: Các Luật Đất đai đều trái Hiến pháp. Tuy nhiên, đây chủ yếu là một cách thức bày tỏ và góp ý, chứ không hẳn là muốn nhằm tới khẳng định vi hiến.

1. Về quyền sở hữu đất đai:

Hiến pháp năm 1959 đang có hiệu lực, quy định đất đai thuộc sở hữu tư nhân, bỗng dưng Quyết định số 201/HĐCP-QĐ ngày 01-7-1980 của Hội đồng Chính phủ về việc Thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước tuyên bố thuộc sở hữu Nhà nước: “Không được phát canh thu tô, cho thuê, cầm cố hoặc bán nhượng đất dưới bất cứ hình thức nào

Hiến pháp không quy định đất đai thuộc sở hữu của Nhà nước, mà là sở hữu toàn dân. Vậy thì tất cả mọi người dân đều phải có quyền sở hữu chung, không theo phần thì cũng hợp nhất. Sở hữu chung giữa nhân dân với Nhà nước. Vậy sao Luật Đất đai lại tước đoạt quyền sở hữu của nhân dân, mà chỉ công nhận sở hữu của Nhà nước, chỉ trao quyền sử dụng cho nhân dân?

Nhân dân phải có quyền sở hữu đối với đất đai, tương tự như sở hữu cổ phiếu trong công ty cổ phần. Cổ phiếu là tài sản của công ty, nhưng đồng thời cũng thuộc sở hữu của cổ đông. Vì vậy, cổ đông có quyền chuyển nhượng, cầm cố,…

Nếu không thừa nhận sở hữu toàn dân là sở hữu chung giữa Nhà nước với nhân dân như lý giải trên, thì Hiến pháp đã trái với ý chí, nguyện vọng của nhân dân, Hiến pháp trái quy luật. Ruộng đất đang thuộc sở hữu của ông cha tự ngàn đời, tự dưng xưng xưng tuyên bố là của Nhà nước. Quyền sở hữu không còn là thiêng liêng, mà là chung chiêng, không còn là bất khả xâm phạm mà là tha hồ xâm phạm.

Continue reading