BÀN VỀ XU HƯỚNG LÃI SUẤT HIỆN NAY

THS. LÊ TRẦN DUY THƯ – Học viện Ngân hàng (Phân viện Phú Yên)

Triển khai thực hiện Nghị quyết 13/NQ-CP ngày 10/5/2012 của Chính phủ, ngày 08/6/2012, Ngân hàng Nhà nước đã kịp thời ban hành Thông tư số 19/2012/TT-NHNN và Thông tư số 20/2012/TT-NHNN, trong đó, quy định lãi suất huy động tối đa bằng VND có kỳ hạn dưới 12 tháng là 9%/năm, lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với 4 lĩnh vực ưu tiên là 13%/năm. Tiếp đó, ngày 09/7/2012, tại Thông báo 198/TB-NHNN, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng đánh giá, rà soát dư nợ các khoản cho vay cũ, trên cơ sở khả năng tài chính, xem xét điều chỉnh giảm lãi suất về mức tối đa 15%/năm để giúp các doanh nghiệp và hộ dân vượt qua khó khăn, duy trì ổn định và từng bước phát triển sản xuất kinh doanh.

Hiện nay, lãi suất cho vay phổ biến tại các tổ chức tín dụng đối với khách hàng thuộc 4 lĩnh vực ưu tiên từ 10 – 12%/năm; lãi suất cho vay tối đa đối với doanh nghiệp và hộ dân chỉ từ 15%/năm trở xuống. Song, tín dụng tăng trưởng vẫn thấp, lãi suất theo các doanh nghiệp vẫn còn cao so với khả năng sinh lời của hoạt động sản xuất kinh doanh. Vậy, lãi suất biến động phụ thuộc vào những yếu tố nào? Bài viết sẽ gợi mở ở một số khía cạnh nhất định về vấn đề này.

Lạm phát và lãi suất danh nghĩa

Dường như lạm phát là “căn bệnh dai dẳng chưa có thuốc đặc trị” của nền kinh tế Việt Nam. Nếu trong giai đoạn 2001 – 2005, chỉ số CPI cuối kỳ tăng bình quân ở mức 5,14%, thì giai đoạn 2006 – 2010, mức tăng bình quân của chỉ số này là 11,48%, gấp 2 lần giai đoạn trước đó. Năm 2011, tỷ lệ lạm phát ở mức cao thứ hai trong vòng 10 năm trở lại đây. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10 tăng 6,02% so với tháng 12/2011 và tăng 7% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 10 tháng năm 2012 tăng 9,66% so với bình quân cùng kỳ năm 2011. (Biểu 1).

clip_image002

(Nguồn: Tổng cục thống kê)

Continue reading

TỪ SỞ HỮU CHÉO TẠI CHAEBOL ĐẾN THỰC TẾ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

THS. TRỊNH THANH HUYỀN – Trường Đào tạo &PTNNL VietinBank

Sở hữu chéo trong hệ thống NHTM Việt Nam
Ba nhóm tích cực:
(1) Sở hữu của các NHTM nhà nước và NHTM nước ngoài tại các Ngân hàng liên doanh
(2) Cổ đông chiến lược nước ngoài tại các NHTM
(3) Cổ đông tại các NHTM là các Cty quản lý quỹ
Ba nhóm đáng lo ngại:
(4) Sở hữu của NHTM nhà nước tại các NHTM cổ phần
(5) Sở hữu lẫn nhau giữa các NHTM cổ phần
(6) Sở hữu NHTM cổ phần bởi các tập đoàn, tổng Cty Nhà nước và tư nhân
Nguồn: Báo cáo Kinh tế vĩ mô 2012 của Ủy ban Kinh tế Quốc hội.

Hình thức sở hữu chéo tồn tại khá lâu và mang lại những thành công không nhỏ cho nhiều nước. Tuy nhiên trên thực tế, sở hữu chéo phức tạp hơn nhiều bởi nó hàm chứa những mối quan hệ chằng chịt và đôi khi rất khó phân tách rạch ròi. Vì vậy, việc nhìn nhận những hạn chế của sở hữu chéo tại các Chaebol Hàn Quốc sẽ cho thấy một số vấn đề trong hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam hiện nay.

Sở hữu chéo tại các Chaebol Hàn Quốc

Sở hữu chéo đơn giản là việc 2 tổ chức sở hữu cổ phần lẫn nhau, chẳng hạn như công ty (Cty) A đầu tư vào Cty B, sau đó B lại đầu tư vào A. Ở Hàn Quốc, sở hữu chéo được coi là đặc trưng nổi bật của các tập đoàn kinh doanh quy mô lớn (Chaebol). Mối quan hệ sở hữu chéo không chỉ giữa các Cty thành viên trong nội bộ Chaebol mà còn giữa các Chaebol với nhau. Luật Thương mại của Hàn Quốc quy định rõ giới hạn cho phép đối với vấn đề này, theo đó, các Cty con không được phép nắm giữ cổ phiếu của Cty mẹ và Cty mẹ cũng không được phép nắm giữ quá 40% cổ phần của Cty con. Tuy việc nắm giữ cổ phần chéo không được phép nhưng một Cty vẫn có thể đầu tư vốn vào một Cty khác và sau đó chuyển vốn cổ phần sang cho bên thứ 3. Hình thức này là hình thức đầu tư nội bộ, được gọi là “mô hình kim tự tháp”.
Mô hình này cho thấy, với số vốn đầu tư không quá lớn (chỉ cần đảm bảo mức khống chế ở một số Cty chủ chốt và một lượng vốn nhỏ ở các Cty con) nhưng phạm vi ảnh hưởng của Cty mẹ hay các gia đình sáng lập thực sự rất lớn. Cty mẹ chỉ cần duy trì tỷ lệ cổ phần khống chế tại Cty A và Cty B nhưng vẫn có ảnh hưởng rất lớn tới các Cty con của A và B. Tuy nhiên, chính sự tập trung này cộng thêm với các chính sách bảo hộ quá lớn của Chính phủ là những nguyên nhân căn bản gây nên rất nhiều vấn đề bất cập ở Hàn Quốc:

Continue reading