ĐỂ CHÍNH SÁCH KHÔNG BỊ “MƯA ĐÁ DƯ LUẬN”

CHÍ HIẾU

Bộ trưởng Giao thông vận tải Đinh La Thăng than rằng, cứ mỗi lần Bộ này đề xuất chính sách hoặc ban hành chính sách là y như rằng dư luận phản ứng rất mạnh. Mạnh đến mức có lúc ông Thăng gọi đó là “những trận mưa đá dư luận”.

Kể ra không ít những quy định của Bộ Giao thông vận tải bị dư luận phản ứng mạnh ngay khi vừa ban hành, Bộ trưởng Đinh La Thăng thừa nhận quá trình chuẩn bị (nhằm) tạo sự đồng thuận xã hội khi ban hành một chính sách vốn là điểm yếu của Bộ Giao thông vận tải. Và ông kỳ vọng điểm yếu đó sẽ được khắc phục sau khi thoả thuận hợp tác giữa Bộ Giao thông vận tải và viện Khoa học xã hội Việt Nam được ký kết vào giữa tuần qua. “Một trong những mục đích quan trọng của thoả thuận hợp tác này là để chuẩn bị dư luận, nghiên cứu tác động nhiều chiều (trước khi ban bành chính sách) mà trước nay Bộ Giao thông vận tải làm chưa tốt, thậm chí là kém”, ông Thăng nói. Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam Nguyễn Xuân Thắng, người được ông Thăng giới thiệu như là “kiến trúc sư” của thoả thuận hợp tác này, cũng cho rằng thực tế nhiều chính sách của ngành giao thông khi triển khai vấp phải những phản ứng xã hội rất gay gắt, vì thế, ông hy vọng thoả thuận sẽ đặt nền móng cho “việc trao đổi thông tin, tăng cường thẩm định, phản biện về mặt chính sách của Bộ Giao thông vận tải (từ phía các chuyên gia của Viện)”.

Không thể không ghi nhận nỗ lực “nhằm khắc phục” nói trên của Bộ Giao thông vận tải nhưng thực ra, để một chính sách đi vào cuộc sống, tránh được những “cơn mưa đá dư luận” mà Bộ trưởng Đinh La Thăng đã nói, nếu chỉ dừng ở mức “tăng cường trao đổi và thẩm định, phản biện” như ông Thắng hy vọng thôi, e là chưa đủ, bởi để có một chính sách phù hợp với yêu cầu của cuộc sống, khâu quan trọng nhất chính là điều tra, khảo sát, thu thập thông tin, dữ liệu từ thực tế làm cơ sở cho việc nghiên cứu, hình thành các chính sách, các quy định phù hợp. Việc thẩm định, phản biện chỉ là một khâu trong quá trình hình thành chính sách; nên nếu mới chú trọng khâu này mà chưa chú ý đúng mức đến khâu điều tra, khảo sát thực tế trước khi soạn thảo chính sách thì rốt cuộc, cũng chỉ mới giải quyết được phần ngọn của vấn đề.

Continue reading

MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ QUYỀN THỪA KẾ TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

NGUYỄN PHƯƠNG THẢO & LỤC THANH THỦY, Vụ Tổ chức – Cán bộ TANDTC

Thừa kế là một chế định quan trọng trong pháp luật dân sự Việt Nam, có ý nghĩa rất lớn trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực thừa kế. Từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1959, Sắc lệnh 90/SL ngày 10/10/1945 cho phép tạm thời áp dụng những văn bản pháp luật dân sự của chế độ cũ với điều kiện "những luật lệ ấy không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể cộng hoà". Tại Điều 27 Hiến pháp năm 1980 cũng ghi nhận "Pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân". Tiếp theo, Thông tư số 81 ngày 27/7/1981 của Toà án nhân dân tối cao đã hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế. Ngày 30/8/1990, Hội đồng Nhà nước nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua Pháp lệnh thừa kế.

Qua hơn 4 năm thực hiện Pháp lệnh thừa kế đã cho thấy về cơ bản những quy định của Pháp lệnh phù hợp với thực tế đời sống, do đó chế định thừa kế trong Bộ luật dân sự năm 1995 đã kế thừa hầu hết các quy định của Pháp lệnh thừa kế. Tuy nhiên, những quy định về thừa kế trong Bộ luật dân sự vẫn còn tồn tại những điểm chưa hợp lý, rõ ràng.

Tại Điều 58 Hiến pháp năm 1992 khẳng định: "Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác…Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân."

Trên tinh thần của Hiến pháp năm 1992, Bộ luật Dân sự năm 1995 được ban hành là một bước phát triển mới trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự ở nước ta. Nội dung của Bộ luật dân sự năm 1995 tương đối đồng bộ và toàn diện nên về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu thực tế của xã hội thời kỳ này. Chế định thừa kế trong Bộ luật dân sự năm 1995 đã kế thừa hầu hết các quy định của Pháp lệnh thừa kế nói trên. Bên cạnh đó, Bộ luật dân sự năm 1995 đã bổ sung một số vấn đề mới trong lĩnh vực thừa kế, đặc biệt là việc thừa kế quyền sử dụng đất của cá nhân và thành viên của hộ gia đình, đây là những cơ sở pháp lý để nâng cao chất lượng thực thi quyền thừa kế tài sản trong đời sống xã hội.

Qua 10 năm thi hành Bộ luật Dân sự năm 1995, thực tiễn xét xử cho thấy những quy định pháp luật về thừa kế đã đi vào cuộc sống. Tuy nhiên, từ sau năm 1995 đến nay đã có hàng loạt văn bản pháp luật có liên quan được ban hành như Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, Luật Đất đai năm 2003, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (sửa đổi), Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi), dẫn đến những bất cập nhất định, trong đó có những quan hệ liên quan đến thừa kế. Vì vậy, Bộ luật Dân sự năm 2005 vừa được ban hành đã bổ sung, chỉnh sửa một số quy định về thừa kế tài sản phù hợp và mang tính khả thi hơn.

Continue reading