BÀN VỀ VIỆC TÒA ÁN YÊU CẦU PHẢI HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ …

HUỲNH MINH KHÁNH

Ông A và ông B ký hợp đồng (viết tay) chuyển nhượng quyền sử dụng đất với nhau nhưng đến hạn theo thỏa thuận thì ông B (người chuyển nhượng) không đồng ý làm thủ tục chuyển quyền sang tên nên hai bên phát sinh tranh chấp. Ông A đã khởi kiện ra Tòa án yêu cầu Tòa án xử: Tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa hai bên và yêu cầu ông B phải trả số tiền đã nhận chuyển nhượng.

Thẩm phán đã thụ lý hồ sơ và lãnh đạo Tòa án đã phân công một Thẩm phán khác giải quyết vụ án trên. Sau khi nghiên cứu hồ sơ, Thẩm phán trực tiếp giải quyết án đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án căn cứ vào khoản 2, Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự với lý do tranh chấp giữa ông A và ông B là tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là tranh chấp đất đai theo qui định của Luật đất đai nhưng chưa được hoà giải ở cơ sở theo khoản 2, Điều 135 Luật đất đai. Như vậy, tranh chấp trên chưa đủ điều kiện khởi kiện theo điểm đ, Khoản 1, Điều 168 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông A không đồng ý với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm nên đã kháng cáo. Tòa án cấp phúc thẩm đã tuyên không chấp nhận đơn kháng cáo của ông A, giữ nguyên quyết định đình chỉ. Vụ việc đã làm cho ông A bức xúc, đi lại nhiều lần nhưng ông A buộc vẫn phải làm theo hướng dẫn của Tòa án, nộp đơn khởi kiện tại UBND xã để được tổ chức hòa giải ở cơ sở, đủ điều kiện thụ lý vụ án.

Điều 135 Luật đất đai quy định, khi các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến UBND xã, phường, thị trấn nơi có tranh chấp. UBND cấp xã có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hòa giải trong thời gian 30 ngày làm việc, kể từ ngày UBND cấp xã nhận được đơn. Trường hợp không hòa giải được tại UBND cấp xã, các bên tranh chấp có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai.

Khoản 26, Điều 4 Luật Đất đai qui định: “Tranh chấp đất đai (TTĐĐ) là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất (NSDĐ) giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”.

Continue reading

THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ HIẾN XÁC NHÂN ĐẠO, HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI ĐỂ PHỤC VỤ Y HỌC VÀ NGHIÊN CỨU TẠI VIỆT NAM

NGUYỄN ĐÌNH THẮM

Có thể nói rằng trong thời gian gần đây ngành y học của Việt Nam đang trên đà phát triển, có nhiều đột phá mới có tính chất đặc quan trọng tạo cơ sở tiền đề cần thiết cho việc khám và chữa bệnh, đã cứu chữa, chăm sóc cho nhiều bệnh nhân, góp phần làm cho xã hội ổn định và phát triển; người dân có trí và lực để bước vào công cuộc Công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước, chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới trên mọi lĩnh vực: kinh tế – xã hội, văn hoá, y học… Đó chính là một niềm tin đáng mừng, niềm hy vọng và mong đợi to lớn nhất về triển vọng phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam trong một tương lai gần để có thể ngang tầm với các nước trong khu vực và thế giới.

Nhưng xã hội ngày càng phát triển thì con người lại phải đối mặt với vô vàn các nguy cơ gây bất ổn định như: Chiến tranh, hoả hoạn, bão lũ, phân biệt sắc tộc… Đặc biệt là dịch bệnh, với vô vàn các căn bệnh nan y, để rồi hàng ngày – hàng giờ Việt Nam nói riêng cũng như các nước trong khu vực và thế giới đã có biết bao nhiêu người phải từ biệt gia đình, bạn bè – cuộc sống và người thân để ra đi trong hàng ngàn, hàng vạn các lý do khác nhau mà y học không thể can thiệp, đẩy lùi và cứu chữa được. Để hạn chế được điều này, khắc phục được sự chết chóc do các căn bệnh nan y gây ra cho con người. Thì mỗi chúng ta phải làm gì? các trung tâm nghiên cứu, các cơ sở y tế, ngành y học sẽ phải tìm ra những phương pháp nào? để có thể khắc phục một cách có hiệu quả điều này. Theo quan điểm của chúng tôi, thì sẽ có rất nhiều các biện pháp, cách thức để khắc phục, ngăn chặn và đẩy lùi các nguy cơ làm phát sinh cái chết cho con người.

Hiện nay ngành y học của Việt Nam nói riêng, khu vực và thế giới nói chung nên quan tâm đến vấn đề: “Hiến xác nhân đạo”, “hiến bộ phận cơ thể người”, Hiến mô tạng, hiến máu nhân đạo… để nghiên cứu phục vụ y học hơn nữa. Có rất nhiều lý do để có thể khẳng định vấn đề này là đúng, đặc biệt quan trọng và cần thiết trong xã hội “hiện đại” ngày nay. Hiện nay rất cần đến việc “Hiến xác nhân đạo”, “hiến bộ phận cơ thể người”, hiến mô tạng…để thức đẩy cho việc khám chữa bệnh, thức đảy ngành y học phát triển, góp phần làm tái sinh lại sự sống từ các bộ phận của người chết trên cơ thể của người sống, giúp cho các sinh viên y khoa được thực tập trên cơ thể người hiến xác trước khi “động dao, động kéo” chữa trị cho người sống, không lẽ sinh viên chỉ thực tập “mổ” trên lý thuyết? Hậu quả của “học chay” thế nào? chắc ai cũng hiểu? Theo PGS, TS Nguyễn Lân Cường: “cứ tưởng tượng, hiến một quả tim, sẽ cứu được một người, còn “xác” dành cho thực tập sẽ rèn luyện tay nghề cho hàng trăm bác sỹ, từ đó cứu được hàng ngàn người, cần lắm chứ!

Continue reading

QUY ÐỊNH HỌP ÐẠI HỘI ÐỒNG CỔ ÐÔNG VÀ VỐN ÐIỀU LỆ CỦA NGÂN HÀNG CẦN ÐƯỢC THỰC TIỄN KIỂM NGHIỆM

LS. NGUYỄN VĂN PHƯƠNG – Vietcombank

Hiện nay, Việt Nam có 35 ngân hàng thương mại cổ phần (chưa bao gồm Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội mới sau khi Ngân hàng thương mại cổ phần Nhà Hà Nội – Habubank sáp nhập vào Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội) và 5 ngân hàng thương mại nhà nước (trong đó, có 4 ngân hàng đã cổ phần phần hoá, chuyển đổi sang hoạt động dưới hình thức ngân hàng thương mại cổ phần, ngoại trừ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Agribank chuyển đổi sang hoạt động dưới hình thức công ty TNHH 1 thành viên do Nhà nước sở hữu từ tháng 10/2010). Do đó, tổ chức và hoạt động của hầu hết các ngân hàng thương mại Việt Nam đang chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp và Luật các tổ chức tín dụng đối với loại hình công ty cổ phần (loại hình công ty này trong lĩnh vực ngân hàng gọi là ngân hàng thương mại cổ phần – sau đây gọi tắt là “Ngân hàng”).

Về mô hình công ty cổ phần thì Ðại hội đồng cổ đông (bao gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết) là cơ quan quyết định cao nhất của Ngân hàng. Các cổ đông thực hiện quyền biểu quyết của mình về các vấn đề thuộc thẩm quyền của Ðại hội đồng cổ đông thông qua các phiên họp thường niên hoặc bất thường hoặc thông qua việc lấy ý kiến bằng văn bản. Tùy theo quy định trong Ðiều lệ của từng Ngân hàng, Ðại hội đồng cổ đông có thể xem xét, quyết định các vấn đề rộng hơn so với các vấn đề bắt buộc do pháp luật quy định; các vấn đề còn lại sẽ được Ðại hội đồng cổ đông giao hoặc ủy quyền cho Hội đồng quản trị toàn quyền nhân danh Ngân hàng để quyết định, thực hiện các quyền, nghĩa vụ của Ngân hàng và được quy định trong Ðiều lệ của Ngân hàng. Việc Ngân hàng tổ chức họp Ðại hội đồng cổ đông thường niên hoặc bất thường phải được tiến hành trong một thời hạn nhất định và phải thông báo, gửi giấy mời các cổ đông tham dự trước một thời hạn tối thiểu xác định theo quy định tại Ðiều lệ của Ngân hàng hoặc quy định của pháp luật. Tuy nhiên, quy định không phù hợp với thực tiễn hoặc thiếu nhất quán giữa các văn bản quy phạm pháp luật có thể làm cho các Ngân hàng không thể tuân thủ được mọi quy định liên quan, đặc biệt là ngành Ngân hàng nơi các ngân hàng thương mại vừa phải tuân thủ quy định của pháp luật chung, vừa phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành.

Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin đề cập đến quy định của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Luật Doanh nghiệp năm 2005 về thời hạn tổ chức họp Ðại hội đồng cổ đông thường niên hoặc bất thường, xác định vốn điều lệ (lý luận về luật thực định) và thực tiễn áp dụng các quy định này trong quá trình hoạt động và kinh doanh của Ngân hàng.

Continue reading