THUẬT NGỮ “THỊ TRƯỜNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ”, “THỊ TRƯỜNG CÔNG NGHỆ” TIẾP CẬN TỪ PHÁP LUẬT VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Hiện nay, thuật ngữ “thị trường khoa học và công nghệ (KH&CN)” và thuật ngữ “thị trường công nghệ” được các tác giả sử dụng khác nhau, thậm chí trong cùng một văn bản dùng đồng thời cả hai thuật ngữ này. Dưới góc độ pháp luật về sở hữu trí tuệ (SHTT), tác giả cho rằng: khoa học không thể trở thành hàng hóa, do đó không tồn tại thị trường khoa học, và tất nhiên không tồn tại thị trường KH&CN…

Dẫn nhập

Thuật ngữ “thị trường KH&CN”, “thị trường công nghệ” hiện đang được dùng trong các văn bản quản lý nhà nước về KH&CN, cũng như trong các nghiên cứu về KH&CN, có thể điểm qua như sau:

– Văn bản quản lý nhà nước về KH&CN:

Mục II. Tạo lập thị trường KH&CN, trong Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện kết luận của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về KH&CN (ban hành kèm theo Quyết định số 188/2002/QĐ-TTg ngày 31.12.2002 của Thủ tướng Chính phủ), có ghi:

“1. Hoàn thiện và xây dựng mới các cơ chế, chính sách để hỗ trợ và thúc đẩy phát triển thị trường KH&CN;…

3. Hình thành các tổ chức quản lý và hỗ trợ phát triển thị trường công nghệ”[1].

– Các nghiên cứu về KH&CN:

+ Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (2006), Phát triển thị trường KH&CN: kinh nghiệm của Trung Quốc và Việt Nam.

+ Hoàng Thúy (2007), Các giải pháp thúc đẩy thị trường KH&CN phát triển, Tạp chí Công nghiệp, 7.2007, tr. 14-15.

+ Hoàng Xuân Long (2007), Tăng cường quản lý thị trường công nghệ ở địa phương, Tạp chí Công nghiệp, 8.2007, tr. 14-15.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KHOẢN TIỀN BÙ ĐẮP VỀ TINH THẦN DO BỊ XÂM PHẠM VỀ TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE, DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN QUY ĐỊNH TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

THS. ĐINH VĂN QUẾ

Khoản tiền “bù đắp về tinh thần” do bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín là khoản tiền mà người bị xâm phạm hoặc người thân thích của người bị xâm phạm được hưởng theo quy định của Bộ luật Dân sự.

Trước khi Quốc hội thông qua Bộ luật Dân sự năm 1995, chưa có quy định nào của pháp luật buộc người gây thiệt hại phải bồi thường khoản tiền này, do còn quan niệm cho rằng, tổn thất về tinh thần, danh dự, nhân phẩm, uy tín không thể tính ra thành tiền được và “tinh thần” được coi là một phạm trù “phi vật chất”. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử trong nhiều năm cho thấy, việc buộc người gây thiệt hại phải bồi thường một khoản tiền để “bù đắp về tinh thần” cho người bị thiệt hại (nếu là sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm) hoặc cho người thân thích của người bị thiệt hại (nếu là tính mạng bị xâm phạm) là cần thiết, phù hợp với tập quán và truyền thống văn hoá xã hội của dân tộc Việt Nam.

Mặc dù Bộ luật dân sự năm 1995 đã quy định về khoản tiền “bù đắp về tinh thần” nhưng chỉ quy định: Tuỳ từng trư­ờng hợp, Toà án quyết định buộc người xâm phạm phải bồi thư­ờng một khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần, còn khoản tiền đó là bao nhiêu thì Bộ luật dân sự năm 1995 chưa quy định. Do vậy, thực tiễn xét xử các Toà án địa phương đã áp dụng không thống nhất. Để khắc phục tình trạng này, ngày 28-4-2004, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; trong đó có khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết này thì:

Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm,…

Continue reading

BÀN VỀ VIỆC TÒA ÁN YÊU CẦU PHẢI HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ …

HUỲNH MINH KHÁNH

Ông A và ông B ký hợp đồng (viết tay) chuyển nhượng quyền sử dụng đất với nhau nhưng đến hạn theo thỏa thuận thì ông B (người chuyển nhượng) không đồng ý làm thủ tục chuyển quyền sang tên nên hai bên phát sinh tranh chấp. Ông A đã khởi kiện ra Tòa án yêu cầu Tòa án xử: Tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa hai bên và yêu cầu ông B phải trả số tiền đã nhận chuyển nhượng.

Thẩm phán đã thụ lý hồ sơ và lãnh đạo Tòa án đã phân công một Thẩm phán khác giải quyết vụ án trên. Sau khi nghiên cứu hồ sơ, Thẩm phán trực tiếp giải quyết án đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án căn cứ vào khoản 2, Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự với lý do tranh chấp giữa ông A và ông B là tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là tranh chấp đất đai theo qui định của Luật đất đai nhưng chưa được hoà giải ở cơ sở theo khoản 2, Điều 135 Luật đất đai. Như vậy, tranh chấp trên chưa đủ điều kiện khởi kiện theo điểm đ, Khoản 1, Điều 168 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông A không đồng ý với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm nên đã kháng cáo. Tòa án cấp phúc thẩm đã tuyên không chấp nhận đơn kháng cáo của ông A, giữ nguyên quyết định đình chỉ. Vụ việc đã làm cho ông A bức xúc, đi lại nhiều lần nhưng ông A buộc vẫn phải làm theo hướng dẫn của Tòa án, nộp đơn khởi kiện tại UBND xã để được tổ chức hòa giải ở cơ sở, đủ điều kiện thụ lý vụ án.

Điều 135 Luật đất đai quy định, khi các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến UBND xã, phường, thị trấn nơi có tranh chấp. UBND cấp xã có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hòa giải trong thời gian 30 ngày làm việc, kể từ ngày UBND cấp xã nhận được đơn. Trường hợp không hòa giải được tại UBND cấp xã, các bên tranh chấp có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai.

Khoản 26, Điều 4 Luật Đất đai qui định: “Tranh chấp đất đai (TTĐĐ) là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất (NSDĐ) giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”.

Continue reading

THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ HIẾN XÁC NHÂN ĐẠO, HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI ĐỂ PHỤC VỤ Y HỌC VÀ NGHIÊN CỨU TẠI VIỆT NAM

NGUYỄN ĐÌNH THẮM

Có thể nói rằng trong thời gian gần đây ngành y học của Việt Nam đang trên đà phát triển, có nhiều đột phá mới có tính chất đặc quan trọng tạo cơ sở tiền đề cần thiết cho việc khám và chữa bệnh, đã cứu chữa, chăm sóc cho nhiều bệnh nhân, góp phần làm cho xã hội ổn định và phát triển; người dân có trí và lực để bước vào công cuộc Công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước, chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới trên mọi lĩnh vực: kinh tế – xã hội, văn hoá, y học… Đó chính là một niềm tin đáng mừng, niềm hy vọng và mong đợi to lớn nhất về triển vọng phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam trong một tương lai gần để có thể ngang tầm với các nước trong khu vực và thế giới.

Nhưng xã hội ngày càng phát triển thì con người lại phải đối mặt với vô vàn các nguy cơ gây bất ổn định như: Chiến tranh, hoả hoạn, bão lũ, phân biệt sắc tộc… Đặc biệt là dịch bệnh, với vô vàn các căn bệnh nan y, để rồi hàng ngày – hàng giờ Việt Nam nói riêng cũng như các nước trong khu vực và thế giới đã có biết bao nhiêu người phải từ biệt gia đình, bạn bè – cuộc sống và người thân để ra đi trong hàng ngàn, hàng vạn các lý do khác nhau mà y học không thể can thiệp, đẩy lùi và cứu chữa được. Để hạn chế được điều này, khắc phục được sự chết chóc do các căn bệnh nan y gây ra cho con người. Thì mỗi chúng ta phải làm gì? các trung tâm nghiên cứu, các cơ sở y tế, ngành y học sẽ phải tìm ra những phương pháp nào? để có thể khắc phục một cách có hiệu quả điều này. Theo quan điểm của chúng tôi, thì sẽ có rất nhiều các biện pháp, cách thức để khắc phục, ngăn chặn và đẩy lùi các nguy cơ làm phát sinh cái chết cho con người.

Hiện nay ngành y học của Việt Nam nói riêng, khu vực và thế giới nói chung nên quan tâm đến vấn đề: “Hiến xác nhân đạo”, “hiến bộ phận cơ thể người”, Hiến mô tạng, hiến máu nhân đạo… để nghiên cứu phục vụ y học hơn nữa. Có rất nhiều lý do để có thể khẳng định vấn đề này là đúng, đặc biệt quan trọng và cần thiết trong xã hội “hiện đại” ngày nay. Hiện nay rất cần đến việc “Hiến xác nhân đạo”, “hiến bộ phận cơ thể người”, hiến mô tạng…để thức đẩy cho việc khám chữa bệnh, thức đảy ngành y học phát triển, góp phần làm tái sinh lại sự sống từ các bộ phận của người chết trên cơ thể của người sống, giúp cho các sinh viên y khoa được thực tập trên cơ thể người hiến xác trước khi “động dao, động kéo” chữa trị cho người sống, không lẽ sinh viên chỉ thực tập “mổ” trên lý thuyết? Hậu quả của “học chay” thế nào? chắc ai cũng hiểu? Theo PGS, TS Nguyễn Lân Cường: “cứ tưởng tượng, hiến một quả tim, sẽ cứu được một người, còn “xác” dành cho thực tập sẽ rèn luyện tay nghề cho hàng trăm bác sỹ, từ đó cứu được hàng ngàn người, cần lắm chứ!

Continue reading

QUY ÐỊNH HỌP ÐẠI HỘI ÐỒNG CỔ ÐÔNG VÀ VỐN ÐIỀU LỆ CỦA NGÂN HÀNG CẦN ÐƯỢC THỰC TIỄN KIỂM NGHIỆM

LS. NGUYỄN VĂN PHƯƠNG – Vietcombank

Hiện nay, Việt Nam có 35 ngân hàng thương mại cổ phần (chưa bao gồm Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội mới sau khi Ngân hàng thương mại cổ phần Nhà Hà Nội – Habubank sáp nhập vào Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội) và 5 ngân hàng thương mại nhà nước (trong đó, có 4 ngân hàng đã cổ phần phần hoá, chuyển đổi sang hoạt động dưới hình thức ngân hàng thương mại cổ phần, ngoại trừ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Agribank chuyển đổi sang hoạt động dưới hình thức công ty TNHH 1 thành viên do Nhà nước sở hữu từ tháng 10/2010). Do đó, tổ chức và hoạt động của hầu hết các ngân hàng thương mại Việt Nam đang chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp và Luật các tổ chức tín dụng đối với loại hình công ty cổ phần (loại hình công ty này trong lĩnh vực ngân hàng gọi là ngân hàng thương mại cổ phần – sau đây gọi tắt là “Ngân hàng”).

Về mô hình công ty cổ phần thì Ðại hội đồng cổ đông (bao gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết) là cơ quan quyết định cao nhất của Ngân hàng. Các cổ đông thực hiện quyền biểu quyết của mình về các vấn đề thuộc thẩm quyền của Ðại hội đồng cổ đông thông qua các phiên họp thường niên hoặc bất thường hoặc thông qua việc lấy ý kiến bằng văn bản. Tùy theo quy định trong Ðiều lệ của từng Ngân hàng, Ðại hội đồng cổ đông có thể xem xét, quyết định các vấn đề rộng hơn so với các vấn đề bắt buộc do pháp luật quy định; các vấn đề còn lại sẽ được Ðại hội đồng cổ đông giao hoặc ủy quyền cho Hội đồng quản trị toàn quyền nhân danh Ngân hàng để quyết định, thực hiện các quyền, nghĩa vụ của Ngân hàng và được quy định trong Ðiều lệ của Ngân hàng. Việc Ngân hàng tổ chức họp Ðại hội đồng cổ đông thường niên hoặc bất thường phải được tiến hành trong một thời hạn nhất định và phải thông báo, gửi giấy mời các cổ đông tham dự trước một thời hạn tối thiểu xác định theo quy định tại Ðiều lệ của Ngân hàng hoặc quy định của pháp luật. Tuy nhiên, quy định không phù hợp với thực tiễn hoặc thiếu nhất quán giữa các văn bản quy phạm pháp luật có thể làm cho các Ngân hàng không thể tuân thủ được mọi quy định liên quan, đặc biệt là ngành Ngân hàng nơi các ngân hàng thương mại vừa phải tuân thủ quy định của pháp luật chung, vừa phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành.

Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin đề cập đến quy định của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Luật Doanh nghiệp năm 2005 về thời hạn tổ chức họp Ðại hội đồng cổ đông thường niên hoặc bất thường, xác định vốn điều lệ (lý luận về luật thực định) và thực tiễn áp dụng các quy định này trong quá trình hoạt động và kinh doanh của Ngân hàng.

Continue reading

BÁN TÀI SẢN LÀ KHOẢN VAY THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT ANH

THS. BÙI ĐỨC GIANG – Công ty Luật Audier and Partners Vietnam, LLC & NCS Khoa Luật, Đại học Paris 2 Panthéon Assas, Cộng hòa Pháp

Trong các hợp đồng tín dụng (credit facility) giữa một bên là một doanh nghiệp hay ngân hàng nước ngoài (offshore company/bank) và một bên là doanh nghiệp hay ngân hàng Việt Nam được điều chỉnh bởi pháp luật Anh thường có một điều khoản về các thay đổi đối với bên cho vay (changes to lenders).

Trong thực tế, sau khi ký kết hợp đồng vay và thực hiện giải ngân một phần hay toàn bộ khoản vay, có rất nhiều lý do khiến bên cho vay thực hiện việc định đoạt khoản vay (tăng tính thanh khoản nguồn vốn, hạn chế rủi ro tín dụng, đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật về an toàn vốn, đầu tư vào các khoản vay mới hứa hẹn khả năng sinh lời cao hơn, tìm thêm các thành viên cho vay hợp vốn mới, v.v…). Pháp luật Anh đưa lại cho các bên khá nhiều lựa chọn để đạt được mục đích này. Đây là một trong số các yếu tố làm tăng tính hấp dẫn của pháp luật Anh vốn thường được các bên lựa chọn là luật áp dụng cho các hợp đồng tài chính của mình. Việc nắm bắt được các phương thức bán tài sản là khoản vay rất hữu ích đối với doanh nghiệp hay ngân hàng Việt Nam là bên đi vay, bên chuyển giao hay bên nhận chuyển giao khoản vay. Bài viết tập trung giới thiệu bốn hình thức định đoạt khoản vay phổ biến nhất theo quy định hiện hành của nền pháp luật này.

1. Chuyển giao quyền và nghĩa vụ của một bên trong hợp đồng (novation)

Cơ chếNovation cho phép một bên trong hợp đồng có thể chuyển giao toàn bộ các quyền và nghĩa vụ của mình phát sinh từ hợp đồng. Giao dịch này phải được sự chấp thuận của tất cả các bên trong hợp đồng. Thông qua novation một ngân hàng mới sẽ thay thế cho ngân hàng là bên cho vay ban đầu bằng việc đảm nhiệm toàn bộ các quyền và nghĩa vụ của ngân hàng này quy định trong hợp đồng tín dụng. Nói cách khác, với sự đồng ý của tất cả các bên trong hợp đồng tín dụng ban đầu, quan hệ hợp đồng giữa bên chuyển giao và bên đi vay hết hiệu lực, chấm dứt và được thay thế bằng một quan hệ hợp đồng mới giữa bên nhận chuyển giao và bên đi vay. Ngay khi ký kết hợp đồng tín dụng ban đầu các bên có thể quy định trước việc thay đổi bên cho vay thông qua novation và xác định một cơ chế hợp đồng cho phép thực hiện novation một cách tự động khi xảy ra một sự kiện cụ thể. Tuy vậy, trong thực tế hợp đồng cấp tín dụng hợp vốn thường được soạn thảo theo hướng quy định việc chuyển giao khoản vay chỉ có hiệu lực khi nhận được sự chấp thuận bằng văn bản của bên nhận chuyển giao (bên cho vay mới) theo đó bên này sẽ đảm nhận các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đối với các bên khác như thể bên này là một bên của hợp đồng ban đầu.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA BÊN THỨ BA

ĐOÀN THÁI SƠN – Vụ Pháp chế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba" là một hợp đồng bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay của bên vay vốn đối với ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, hiệu lực pháp lý của loại hợp đồng này trong thực tiễn còn có nhiều ý kiến khác nhau và có thể để lại hệ quả xấu cho ngân hàng thương mại. Bài viết dưới đây xin được đề cập đến cơ sở pháp lý của "hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba".

Áp dụng các biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ vay của khách hàng tại ngân hàng là việc làm phổ biến trong hoạt động cấp tín dụng tại các ngân hàng. Nhận tài sản bảo đảm của bên thứ ba là việc ngân hàng nhận tài sản bảo đảm thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bên bảo đảm (chủ sở hữu tài sản bảo đảm hay còn gọi là “bên thứ ba”) để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay của bên vay vốn (bên có nghĩa vụ được bảo đảm) với ngân hàng. Hợp đồng bảo đảm được ký kết trong trường hợp này là hợp đồng bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba. Mối quan hệ hợp đồng này thường có sự tham gia của ba bên: (i) Ngân hàng với vai trò là bên nhận bảo đảm, đồng thời là bên có quyền trong quan hệ cấp tín dụng; (ii) Chủ sở hữu tài sản là bên bảo đảm hay còn gọi là bên thứ ba mang tài sản của mình để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay với ngân hàng; và (iii) Khách hàng vay là bên được bảo đảm. Trường hợp tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất thì hợp đồng bảo đảm được gọi là hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba. Tuy nhiên, thời gian vừa qua, khi khách hàng vay không trả được nợ vay ngân hàng theo thỏa thuận, ngân hàng tiến hành xử lý tài sản bảo đảm của bên bảo đảm (bên thứ ba) để thu hồi nợ vay, thì bên thứ ba khởi kiện yêu cầu tòa án tuyên hợp đồng bảo đảm vô hiệu. Trên thực tế, khi giải quyết loại tranh chấp này, một số tòa án nhân dân các cấp (cả cấp sơ thẩm và phúc thẩm) đã tuyên hợp đồng bảo đảm của bên thứ ba là vô hiệu với lý do chủ yếu cho rằng, đây là mối quan hệ ba bên nên đáng lẽ các bên liên quan phải ký kết hợp đồng bảo lãnh (giữa ba bên), chứ không phải là hợp đồng thế chấp. Ðiều đáng lưu ý ở đây là các hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba này đã được các bên liên quan hoàn tất thủ tục công chứng tại văn phòng công chứng và đăng ký thế chấp tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất.

1. Cơ sở pháp lý của việc ký kết hợp đồng thế chấp

1.1. Quy định về thế chấp, bảo lãnh của Bộ luật Dân sự

– Về khái niệm thế chấp: Ðiều 346 Bộ luật Dân sự 1995 quy định: “Thế chấp tài sản là việc bên có nghĩa vụ dùng tài sản là bất động sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ đối với bên có quyền…”. Như vậy, theo quy định của Bộ luật Dân sự 1995, thế chấp tài sản là việc bên có nghĩa vụ dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của chính mình đối với bên có quyền.

Continue reading

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI ĐỐI VỚI HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ VÀ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA THEO PHÁP LUẬT NHẬT BẢN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

LÊ THỊ HOÀNG THANH & TRƯƠNG HÔNG QUANG – Nghiên cứu viên, Ban NCPL Dân sự – Kinh tế, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp

I. BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI ĐỐI VỚI HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ

1. Cơ sở pháp lý

Việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có lịch sử khá lâu đời ở Nhật Bản, văn bản đầu tiên về quyền tác giả ở Nhật Bản là Sắc lệnh về xuất bản, Shuppan Jorei, được ban hành năm 1869, bảo hộ việc xuất bản sách[1], Sắc lệnh này được sửa đổi vào năm 1875. Năm 1876, Sắc lệnh về hình ảnh đã được ban hành.

Đạo luật đầu tiên về quyền tác giả được ban hành vào năm 1899. Văn bản luật này được xây dựng dựa trên những nguyên tắc cơ bản của Công ước Berne để đáp ứng cho việc Nhật Bản gia nhập công ước này. Đạo luật này có hiệu lực cho đến khi được thay thế bởi Luật quyền tác giả, Luật số 48 năm 1970. Luật Quyền tác giả được sửa đổi vào các năm 1984, 1985, 1988, 1989, 1992. Và vào năm 1994, Luật quyền tác giả được sửa đổi nhằm đảm bảo thực thi Hiệp định TRIPs. Luật Quyền tác giả được sửa đổi lần cuối cùng vào năm 2004 (Luật số 92 năm 2004).

Nhật Bản gia nhập Công ước Brussels năm 1948 và Công ước Paris năm 1971 và công ước Berne năm 1974. Đến năm 1978 Nhật Bản gia nhập Công ước Bảo hộ ghi âm- còn gọi là Công ước Geneva. Năm 1989, Nhật Bản chấp nhận gia nhập Công ước Rome về quyền kế cận.

Luật quyền tác giả Nhật Bản phân biệt khá rõ quyền tinh thần và quyền kinh tế (Điều 17.1 Luật Quyền tác giả). Cả hai quyền nay để đều đương nhiên được bảo hộ. Việc đăng ký không phải là để xác lập quyền tác giả mà có ý nghĩa củng cố quyền tác giả. Khi có tranh chấp tại Toà án, người đăng ký bản quyền sẽ có lợi. Thông thường khi có tranh chấp trách nhiệm chứng minh thuộc về nguyên đơn, nếu có đăng ký rồi thì nguyên đơn không phải chứng minh nữa mà bị đơn có trách nhiệm chứng minh (Điều 75, Điều 76, Điều 77 Luật quyền tác giả). Một khi đã xác lập quyền, người sở hữu quyền tác giả không cần phải chứng minh quyền tinh thần và quyền kinh tế trước toà, có thể hành động phù hợp với những hành vi có nguy cơ đe doạ quyền. Chủ sở hữu quyền có thể kiện ra tòa yêu cầu tòa bảo hộ quyền tinh thần và quyền kinh tế. Tòa án sẽ ra lệnh tiêu hủy các sản phẩm vi phạm quyền sở hữu trí tuệ cũng như các công cụ để sản xuất các sản phẩm vi phạm và áp dụng các biện pháp khác. Chủ sở hữu quyền còn có thể tìm sự trợ giúp từ phía Cục Văn hóa, cơ quan có quyền trung gian hòa giảI trong các vụ việc về quyền tác giả (Điều 105 (1), Luật quyền tác giả). Tuy nhiên hội đồng hòa giải chỉ đưa ra ý kiến chứ không đưa ra quyết định mang tính bắt buộc.

Continue reading

PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH

TRƯƠNG HỒNG QUANG – Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp

1. Khái quát chung pháp luật thế giới về quyền của người đồng tính

Từ thế kỷ XIX trở về trước, nhiều quốc gia đã đưa đồng tính vào danh sách các bệnh về tâm thần. Quan niệm đồng tính luyến ái là rối loạn tâm lý là một quan niệm phổ biến ở phương Tây từ thế kỷ XIX và sang đến một phần thế kỷ XX, và có lẽ nó lan truyền cùng với sự phổ biến của y học phương Tây(1). Đến những thập niên cuối thế kỷ XX, khoa học đã khẳng định đồng tính luyến ái không phải là bệnh. Nhiều nước lần lượt loại bỏ đồng tính luyến ái khỏi danh sách bệnh tâm thần, bắt đầu là Hiệp hội tâm lý Hoa Kỳ đã loại đồng tính ra khỏi danh sách bệnh tâm thần vào năm 1973. Tại Trung Quốc năm 2001 cũng đã loại đồng tính luyến ái khỏi danh sách bệnh tâm thần. Đồng tính luyến ái được coi là một phần của đa dạng tính dục con người, không phải là bệnh và cũng không phải là giới tính thứ ba. Đến năm 1990, Tổ chức Y tế Thế giới – cơ quan của Liên Hợp Quốc cố vấn chuyên môn cho các quốc gia về y tế đã loại bỏ đồng tính luyến ái khỏi danh sách bệnh tâm thần. Bên cạnh đó, tháng 6/2011, Hội đồng nhân quyền của Liên hiệp quốc đã thông qua Nghị quyết khẳng định: ‘mọi người đều có quyền bình đẳng, bất kể thiên hướng tình dục như thế nào’(2). Đến ngày 7/3/2012, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon đã có bài phát biểu lịch sử kêu gọi các quốc gia trên toàn thế giới phi hình sự hóa đồng tính, chấm dứt kỳ thị với những người đồng tính, lưỡng tính và chuyển giới (thuật ngữ tiếng Anh viết tắt là LGBT)(3). Như vậy, lần đầu tiên, người đứng đầu tổ chức quốc tế lớn nhất hành tinh đã đưa ra một thông điệp rõ ràng và đầy tính ủng hộ đối với vấn đề LGBT, và đây cũng là quan điểm của cả Liên Hiệp Quốc khi gần đây liên tiếp có những động thái để giải quyết vấn đề kỳ thị phân biệt dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới. Những động thái này đã một lần nữa khẳng định đồng tính chỉ là một xu hướng tính dục như bao xu hướng khác (dị tính, lưỡng tính, vô tính,..) và góp phần xua đuổi quan niệm nặng nề tại các nước trên thế giới về giới đồng tính. Đến thời điểm hiện tại đã hình thành hai quan điểm quan trọng về nguyên nhân của xu hướng tình dục này, đó là do các mặt tác động về xã hội và do mặt sinh lí, thần kinh của con người(4).

Continue reading