MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ THƯƠNG NHÂN NƯỚC NGOÀI TRONG PHÁP LUẬT CỘNG HÒA PHÁP

A. BỘ LUẬT THƯƠNG MẠI (Trích)

Điu L122-1

Nghiêm cấm người nước ngoài tiến hành trên lãnh thổ Cộng hoà Pháp các hoạt động thương mại, công nghiệp hoặc thủ công mỹ nghệ khi không có thẻ ghi nhận "thương nhân" do người đứng đầu cơ quan hành chính tỉnh nơi người đó dự định thực hiện các hoạt động kinh doanh cấp.

Điu L122-2

Mọi hành vi vi phạm Điều L.122-1 và các quy định của Nghị định hướng dẫn thi hành theo Điều L122-4 bị phạt tù 6 tháng và kèm theo khoản phạt tiền 3750 ơ-rô (25 000 franc). Trong trường hợp tái phạm, hình phạt tăng lên gấp đôi. Ngoài ra, toà án có thể ra quyết định đóng cửa cơ sở đó.

Điu L122-3

1. Các quy định tại Điều L.122-1 và Điều L.122-2 không áp dụng đối với những người mang quốc tịch của một trong các quốc gia thành viên Cộng đồng Châu Âu hoặc mang quốc tịch của một quốc gia tham gia Hiệp định về không gian kinh tế Châu Âu, khi người đó tiến hành các hoạt động vì lợi ích của chính mình hoặc vì lợi ích của một đối tượng khác cũng có quốc tịch của các quốc gia nêu trên hoặc vì lợi ích của một công ty được thành lập theo pháp luật của một quốc gia là thành viên của các tổ chức nêu trên và công ty đó có trụ sở điều lệ, trụ sở hành chính hoặc cơ sở chính tại một trong các quốc gia đó.

Continue reading

THAY ĐỔI MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG VÀ CHUYỂN ĐỔI MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG NHÀ, CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG Ở CỘNG HÒA PHÁP

  Tác giả chưa cập nhật – Nội dung và bản dịch thuộc Nhà Pháp luật Việt – Pháp

Một cách khái quát, chúng tôi sẽ giới thiệu về phạm vi áp dụng của những quy định nhằm bảo vệ diện tích nhà ở tại những thành phố lớn đã được ban hành.

Sự kiểm soát việc thay đổi chế độ sử dụng được áp dụng ở vùng Paris, tại các thành phố thuộc các tỉnh vành đai ngoài Paris (Haute-de-Seine, Val-de-Marne, Seine-SaintDenis) và tại các thành phố/xã có hơn 200 000 dân.

Các thành phố khác có thể triển khai chế độ kiểm soát này sau khi hội đồng thành phố phê duyệt dựa trên đề xuất của thị trưởng (hoàn toàn không bắt buộc) và việc kiểm soát này chỉ áp dụng đối với một phần của thành phố.

Tại các thành phố này, những căn nhà có mục đích sử dụng làm nơi ở không thể được chuyển đổi sang mục đích khác (nghề nghiệp, thương mại…) trừ khi có sự cho phép trước.

Continue reading

NGHĨA VỤ BẢO MẬT THÔNG TIN GIAI ĐOẠN TIỀN HỢP ĐỒNG TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

 ĐINH THỊ TÂM – Đại học Ngoại thương Hà Nội[1]

Đặt vấn đề [2]

Giai đoạn tiền hợp đồng là giai đoạn đầu tiên liên quan đến hợp đồng. Trong giai đoạn này các bên tiến hành đàm phán với nhau để đi đến sự ưng thuận giao kết hợp đồng. Để đạt được sự ưng thuận thì trong giai đoạn này các bên phải cung cấp cho nhau các thông tin cần thiết liên quan đến nội dung, đối tượng của hợp đồng. Do tính chất quan trọng của các thông tin mà các bên cung cấp cho nhau trong giai đoạn này nên xu hướng trong các hệ thống pháp luật hiện nay đều thừa nhận nghĩa vụ bảo mật thông tin trong giai đoạn tiền hợp đồng là một loại nghĩa vụ pháp lý. Không nằm ngoài xu hướng chung đó, pháp luật của Việt Nam cũng đã có các quy định chung và các quy định chuyên biệt về nghĩa vụ bảo mật thông tin giai đoạn tiền hợp đồng. Tuy nhiên, các quy định này hiện nay vẫn còn một số tồn tại nhất định dẫn đến vướng mắc trong thực tiễn áp dụng. Trong bài viết này, tác giả trung phân tích các quy định về nghĩa vụ bảo mật thông tin giai đoạn tiền hợp đồng theo Bộ luật dân sự (BLDS) 2015 và một số quy định chuyên biệt, từ đó, đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật.

1. Giai đoạn tiền hợp đồng

Thuật ngữ ‘tiền hợp đồng” đã được đề cập trong rất nhiều các công trình khoa học cũng như trong các văn bản pháp luật. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có “một định nghĩa chính thức cụ thể, rõ ràng về giai đoạn tiền hợp đồng trong các văn bản pháp lý quốc tế và pháp luật của các quốc gia” (Lê Trường Sơn, 2015, tr.26).

Continue reading

Giao dịch bảo đảm bằng quyền tài sản THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

 TS. BÙI ĐỨC GIANG & THS. NGUYỄN HOÀNG LONG

Ngày nay, các tài sản vô hình (quyền tài sản) có xu hướng chiếm một tỷ trọng ngày càng quan trọng trong tổng tài sản của một doanh nghiệp. Việc sử dụng tài sản vô hình để bảo đảm nghĩa vụ có rất nhiều ưu điểm so với tài sản hữu hình bởi vì giúp tránh được nguy cơ tài sản bị mất, bị phá hủy hay giảm giá trị.

Hơn nữa, tài sản vô hình có thể được lưu trữ và chuyển giao bằng các phương tiện điện tử mà không chịu hạn chế về mặt kích thước hay không cần phải chuyển giao về mặt vật chất. Chỉ bằng một cái nhấn chuột máy tính, tài sản vô hình có thể vượt qua biên giới một nước. Chính vì thế, đây là một loại tài sản khá lý tưởng để bảo đảm khoản vay[1]. Tuy vậy, ở Việt Nam, việc cho vay theo tài sản vô hình chưa thực sự phổ biến. Ngoài tâm lý “chuộng” tài sản hữu hình quy định pháp luật hiện hành vừa thiếu vừa ít tính khả thi đang là rào cản lớn cho việc xác lập và xử lý các giao dịch bảo đảm bằng tài sản vô hình.

1. Khái niệm quyền tài sản và giao dịch bảo đảm với quyền tài sản

Khác với pháp luật của nhiều nước, tài sản vô hình ở Việt Nam được pháp luật ghi nhận thông qua khái niệm “quyền tài sản”. Quyền tài sản là một loại tài sản đã được quy định trong các bộ luật dân sự của Việt Nam [2].

Continue reading

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CỘNG HÒA PHÁP

 JEAN-FRANÇOIS MARY – Thẩm phán Tham chính viện, Cộng hòa Pháp

Mỗi nước có một nền văn hóa pháp lý riêng, bắt nguồn từ lịch sử, quá khứ, phương thức tổ chức chính trị và tổ chức hệ thống hành chính của nước mình. Nước Pháp cũng vậy. Đương nhiên, không được gò ép nước này đi theo hệ thống pháp luật của nước khác, mà chỉ nên tìm hiểu để rút ra những bài học kinh nghiệm và tìm ra các điểm chung hơn là những điểm khác biệt. Với mục đích như vậy, những hoạt động trao đổi như cuộc tọa đàm 2 ngày của chúng ta rất thiết thực. Tất nhiên tôi cũng nhận thấy rằng vai trò của Nghị viện ở Việt Nam không hoàn toàn giống như vai trò của Nghị viện ở Pháp. Ở Pháp, ngoài kỳ nghỉ ra, cả Hạ nghị viện lẫn Thượng nghị viện đều hoạt động gần như những cơ quan thường trực. Nghị viện ở Pháp có các luật gia, chuyên gia (gồm cả công chức hoặc không phải là công chức) hỗ trợ cho các nghị sĩ trong việc chuẩn bị các dự án luật. Thứ hai, so với các tiêu chí của Pháp thì dự thảo luật của Việt Nam có thể được trình bày theo nhiều khía cạnh khác nhau.

Ví dụ, ở Pháp, tất cả những quy định về cải tiến hoạt động của Nghị viện sẽ được tập hợp trong một đạo luật tổ chức, tức là luật được ban hành nhằm hướng dẫn thi hành một số quy định của Hiến pháp và xét về thực chất, thuộc khối quy phạm hiến định. Bên cạnh đó, những quy định liên quan đến hoạt động của Chính phủ có thể được tập hợp trong một đạo luật, thậm chí trong nghị định của Chính phủ (trường hợp quy định về tổ chức và hoạt động của một bộ).

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LUẬT HÓA ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN

 OLIVIER GOUSARD – Công chứng viên, Cộng hòa Pháp

1. Những vấn đề chung

 Nước Pháp của chúng tôi có một hệ thống pháp luật về đăng ký đất đai rất rõ ràng và cụ thể vì thủ tục đăng ký đất đai đã được quy định hết sức chi tiết trong các văn bản quy phạm pháp luật. Việt Nam cũng cần đi theo hướng này. Ở Pháp, các thủ tục đăng ký bất động sản (đăng ký quyền, đăng ký các văn bản, hợp đồng) rất rõ ràng và chi tiết. Thực vậy, các thủ tục về đăng ký đất đai cụ thể tới cấp độ tên, mô tả địa chính… Chính vì thế tôi rất ủng hộ quan điểm xây dựng một văn bản pháp luật về các thủ tục đăng ký bất động sản. Chúng ta chỉ có thể có các thông tin về bất động sản được bảo mật khi chúng ta có các thông tin chi tiết nhất có thể.

Từ bài phát biểu của bà Hiền[1] tôi nhận thấy yêu cầu đặt ra là hệ thống đăng ký bất động sản phải phù hợp với Hiến pháp. Về điểm này, theo pháp luật của Pháp, hệ thống đăng ký bất động sản mà công chúng có thể yêu cầu cung cấp thông tin phải tôn trọng các quy định pháp luật của Nhà nước và tôn trọng các quyền tự do cá nhân. Hệ thống đăng ký đất đai phải cho phép cung cấp các thông tin có thật và giúp Nhà nước thu thuế hiệu quả. Nhiệm vụ đặt ra cho mỗi Nhà nước là phải đảm bảo nguồn thu ngân sách mà chìa khóa của công tác này chính là việc phải đảm bảo được việc thu thuế.

Continue reading

MỘT SỐ THUẬT NGỮ BẢO HIỂM HÀNG HẢI QUY ĐỊNH TRONG BỘ LUẬT HÀNG HẢI VIỆT NAM 2015 CẦN ĐƯỢC HƯỚNG DẪN HIỂU THỐNG NHẤT

  LS. NGUYỄN ĐỨC THẮNG – Tổng Công ty cổ phần bảo hiểm Toàn Cầu

I. Một số khái niệm bảo hiểm hàng hải cần hướng dẫn hiểu thống nhất

1. Đoan kết “tàu đủ khả năng đi biển” (seaworthiness)

Tàu đủ khả năng đi biển là một đoan kết mặc nhiên của chủ tàu khi tham gia bảo hiểm. Điều 325.1a của Bộ luật Hàng hải Việt Nam quy định người bảo hiểm không chịu trách nhiệm về tổn thất phát sinh khi tàu biển không đủ khả năng an toàn đi biển. Vậy tiêu chí nào xác định tàu đủ khả năng đi biển?.

Tham khảo Luật Bảo hiểm hàng hải Anh quốc 1906: Điều 39.4 quy định “Tàu được coi là đủ khả năng đi biển khi nó thích ứng hợp lý về mọi phương diện để chịu đựng những hiểm hỏa biển cả thông thường của phiêu trình được bảo hiểm” (A ship is deemed to be seaworthy when she is reasonably fit in all respects to encounter the ordinary perils of the seas of the adventure insured).

Tính chất “thông thường” (ordinary) của hiểm họa biển cả không được ấn định một cách cụ thể cho mọi trường hợp. Tùy thuộc vào vùng biển để xác định hiểm họa nào là thông thường. Chẳng hạn, những vùng biển thường có bão tố, lốc xoáy, thời tiết xấu,… thì tàu nào đi vào vùng biển đó phải có thiết kế phù hợp để chịu đựng được các điều kiện thiên nhiên này. Như vậy, bão tố, lốc xoáy, thời tiết xấu cũng có thể là hiểm họa biển cả thông thường trong một số vùng biển nào đó. Hệ thống Common Law đo lường mức độ thích ứng hợp lý của tàu dựa trên việc liệu một chủ tàu cẩn trọng có đưa tàu ra biển với tình trạng tàu như thế hay không? Các vấn đề ảnh hưởng đến khả năng đi biển của tàu:

Continue reading

Giải quyết yêu cầu văn bản CÔNG CHỨNG VÔ HIỆU

CHU XUÂN MINH– Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Bài nghiên cứu này bàn về việc xác định vụ việc yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, phân biệt loại vụ việc này với yêu cầu tuyên bố hợp đồng, giao dịch vô hiệu; bàn về một số vướng mắc trong thực tiễn xét xử về tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu; và cả về một lĩnh vực tranh chấp gần gũi là yêu cầu hủy chứng thực trái pháp luật.

Giải quyết yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu bao gồm cả giải quyết vụ án dân sự “Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu” theo quy định tại khoản 11 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS) và giải quyết việc dân sự “Yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu” theo quy định tại khoản 6 Điều 27 BLTTDS. Đây là những loại vụ việc dân sự mới nên nhận thức và áp dụng pháp luật còn nhiều vấn đề chưa thống nhất. Chỉ riêng việc xác định thế nào là “văn bản công chứng” cũng đã khác nhau. Một số trường hợp sau khi kiện về yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không được chấp nhận (bị bác yêu cầu) lại chuyển sang kiện yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và vẫn được Tòa án thụ lý giải quyết. Cùng là vụ án có yêu cầu tuyên bố một hợp đồng đã được công chứng vô hiệu, có Tòa án xác định tổ chức hành nghề công chứng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, có Tòa án chỉ xác định công chứng viên là nhân chứng, có trường hợp không đưa tổ chức hành nghề công chứng vào tham gia tố tụng.

Continue reading

QUYỀN KHỞI KIỆN CỦA CỔ ĐÔNG HOẶC CÔNG TY ĐỐI VỚI NGƯỜI QUẢN LÝ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN

LS. NGUYỄN DUY ANH – Công ty Luật Trí Minh

1. Đặt vấn đề

Kể từ Luật Doanh nghiệp năm 1999 đã khai sinh ra loại hình công ty cổ phần, một pháp nhân hoàn toàn xa lạ với thương nhân Việt Nam, vốn quen với loại hình hộ gia đình. Vốn công ty cổ phần vốn được chia thành các phần bằng nhau, và việc huy động vốn là không giới hạn. Trong đó những quyền hạn của các cổ đông với mức sở hữu cổ phần khác nhau là khác nhau, đương nhiên là cổ đông lớn có nhiều đặc quyền hơn cổ đông nhỏ. Để bảo vê cổ đông thì Luật Doanh nghiệp quy định nhiều thể chế, trong đó có thể chế khởi kiện người quản lý công ty của cổ đông. Bài luận này tập trung trả lời các câu hỏi chính sách khởi kiện người quản lý quy định trong luật có thực thi được không? Các kiến nghị và giải pháp để quyền khởi kiện người quản lý được thực thi hiệu quả hơn.

2. Nội dung

2.1. Quyền khởi kiện quản lý công ty của cổ đông

Điều 161 của Luật Doanh nghiệp năm 2014 (LDN) quy định về khởi kiện người quản lý trong công ty cổ phần như sau:

“1. Cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 1% số cổ phần phổ thông liên tục trong thời hạn 06 tháng có quyền tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong các trường hợp sau đây:

a) Vi phạm nghĩa vụ người quản lý công ty theo quy định tại Điều 160 của Luật này;

b) Không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được giao; không thực hiện, thực hiện không đầy đủ, không kịp thời nghị quyết của Hội đồng quản trị;

Continue reading

VỀ VIỆC SỬ DỤNG THUẬT NGỮ TRONG DỰ THẢO BỘ LUẬT DÂN SỰ (SỬA ĐỔI)

Thời gian qua, có một số tranh luận về việc sử dụng thuật ngữ “Giao dịch dân sự” hay “Hành vi pháp lý”, “Quyền sở hữu” hay “Vật quyền”, “Trái quyền”… trong dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) nay là Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa thực sự phù hợp với các nguyên lý cơ bản của luật tư và vị trí, vai trò của Bộ luật Dân sự dẫn tới nhiều vướng mắc trong vận dụng, giải thích pháp luật hiện nay. Civillawinfor xin chia sẻ một số thông tin liên quan đến quá trình soạn thảo về vấn đề này.

I. Ý kiến của Vụ Pháp luật dân sự – kinh tế tại Phiên họp giữa Bộ trưởng Bộ Tư pháp và nhóm chuyên gia Việt Nam, ngày 2/8/2014

Căn cứ vào kết quả lấy ý kiến thành viên chính phủ và các Bộ, ngành, chuyên gia, Vụ pháp luật dân sự – kinh tế đề xuất một số nội dung thảo luận trong Phiên làm việc giữa Bộ trưởng Hà Hùng Cường với nhóm chuyên gia tư vấn như sau:

1. Thảo luận về việc sử dụng thuật ngữ và nội dung liên quan đến hành vi pháp lý, vật quyền, trái quyền trong Bộ luật dân sự

Văn phòng Chính phủ, một số cơ quan và chuyên gia đề nghị không sử dụng thuật ngữ “hành vi pháp lý” thay cho “giao dịch dân sự”; cân nhắc việc sử dụng thuật ngữ “vật quyền”, “trái quyền” và nội dung của hai chế định này để Bộ luật dân sự được dễ hiểu, dễ áp dụng và nâng cao tính khả thi.

Đề nghị các chuyên gia cho ý kiến tham vấn về vấn đề này.

Quan điểm của Vụ pháp luật dân sự – kinh tế:

1.1. Hành vi pháp lý

Việc dự thảo Bộ luật sử dụng thuật ngữ “hành vi pháp lý” thay cho “giao dịch dân sự” là dựa trên các căn cứ sau đây:

Continue reading

NHÂN TỐ CHÍNH SÁCH TÁC ĐỘNG LÊN GIÁ NHÀ ĐẤT Ở ĐỘ THỊ – TÌNH HUỐNG VIỆT NAM

TS. NGUYỄN NGỌC VINH – Đại học Kinh tế TP.HCM

Tóm tắt

Giá nhà đất ở đô thị (GNĐƠĐT) có ý nghĩa quan trọng trong việc mua nhà ở ổn định cuộc sống của phần lớn cộng đồng dân cư, nhưng thực tế GNĐƠĐT nước ta luôn duy trì ở mức cao vượt qua khả năng chi trả của đại đa số cư dân đô thị. Do vậy, nhận diện chính xác những nhân tố tác động đến GNĐƠĐT luôn là thách thức đối với các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách. Nghiên cứu của tác giả tập trung vào việc phân tích nhân tố chính sách tác động lên GNĐƠĐT và đã nhận diện rằng: GNĐƠĐT ở nước ta tăng cao có hai nguyên nhân trực tiếp, đó là phát sinh những bất cập trong việc thay đổi cách tính tiền sử dụng đất và chi phí sử dụng vốn cho dự án đầu tư vào bất động sản rất cao. Dựa trên phân tích những bất cập làm cho GNĐƠĐT tăng, tác giả đề xuất 4 kiến nghị nhằm tháo gỡ những vướng mắc trong các văn bản pháp quy, tìm giải pháp giảm GNĐƠĐT tiệm cận với khả năng chi trả của cộng đồng, góp phần phát triển công tác an sinh xã hội.

1. Đặt vấn đề

Nghịch lý cho thấy thị trường nhà, đất ở nước ta từ năm 2008 đến nay trong giai đoạn trầm lắng nhưng giao dịch nhà đất ở đô thị vẫn tăng, giá cao đã vượt qua khả năng chi trả của đa số cộng đồng dân cư có nhu cầu về nhà ở nhưng có thu nhập thấp, bài toán an sinh xã hội của Chính phủ trở nên khó giải quyết.

Continue reading

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH CÔNG CHỨNG CỘNG HÒA PHÁP

 GÉRARD KAEUFLING Chủ tịch danh dự Hội đồng Công chứng tối cao Pháp

1. Định nghĩa

Công chứng viên là nhân viên công quyền được bổ nhiệm để lập văn bản, hợp đồng mà đương sự phải hoặc muốn được công chứng, làm cho các văn bản đó có giá trị xác thực như văn bản của cơ quan công quyền, bảo đảm tính chính xác của ngày, tháng, năm, lưu giữ lâu dài và cấp bản sao cho đương sự (Pháp lệnh ngày 2 tháng 11 năm 1945)

2. Khung pháp lý

Luật ngày 25 tháng Ventôse năm XI[1], quy định về cơ cấu tổ chức ngành công chứng.

3. Quy chế công chứng viên

Pháp lệnh ngày 2 tháng 11 năm 1945 và Nghị định hướng dẫn thi hành ngày 19 tháng 12 năm 1945 quy định những nội dung cơ bản về quy chế của công chứng viên. Khái niệm công chứng viên quy định tại Điều 1 Pháp lệnh ngày 2 tháng 11 năm 1945 nhấn mạnh đến phạm vi chức năng của công chứng trên cơ sở nêu rõ nhiệm vụ chứng thực văn bản, hợp đồng cũng như vai trò tư vấn của công chứng viên.

Continue reading

PHÁP LUẬT VỀ QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI CỦA HOA KỲ VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

TS. NGUYỄN NGỌC HÀ & THS. VÕ SỸ MẠNH – Trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội

Đặt vấn đề

Quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của mình[1]. Hoạt động quảng cáo thương mại đã được luật định từ Điều 102 đến Điều 116 Luật thương mại năm 2005 nhằm tạo hành lang pháp lý cho thương nhân tiến hành các hoạt động này. Tuy nhiên, hoạt động thương mại ngày càng phát triển, kéo theo đó là sự đang dạng, phong phú trong hoạt động quảng cáo thương mại của thương nhân. Vì vậy, các quy định về quảng cáo thương mại trong Luật thương mại Việt Nam năm 2005 dần bộc lộ những bất cập, không phù hợp với thực tiễn thương mại đòi hỏi phải hoàn thiện. Nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm xây dựng pháp luật về quảng cáo thương mại của các nước phát triển trên thế giới là một trong những hướng đi có ý nghĩa trong quá trình hoàn thiện quy định pháp luật thương mại Việt Nam nói chung, quy định pháp luật về quảng cáo thương mại nói riêng.

Trong phạm vi của bài viết này, người viết sẽ sẽ tập trung tìm hiểu, phân tích kinh nghiệm xây dựng và thực thi pháp luật về quảng cáo thương mại của Hoa Kỳ, từ đó rút ra một số bài học cho Việt Nam. Các quy định của pháp luật Hoa Kỳ về quảng cáo thương mại có thể được chia ra thành hai nhóm. Đó là các quy định về hình thức quảng cáo thương mại và các quy định về kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại thương mại (2). Trước khi đi vào nghiên cứu cụ thể hai nhóm quy định này, bài viết sẽ giới thiệu sơ lược về hệ thống các quy định đó (1). Đồng thời, để có thể rút ra được những bài học cho Việt Nam (4) từ kinh nghiệm xây dựng và thực thi pháp luật về quảng cáo của Hoa Kỳ, bài viết cũng sẽ phân tích một số hạn chế của pháp luật về quảng cáo thương mại của Việt Nam (3). Continue reading

HIỆP ĐỊNH EVFTA TỪ GÓC NHÌN CHIẾN LƯỢC

TS. LÊ ĐÌNH TĨNH & THS. HÀN LAM GIANG – Học viện Ngoại giao

Ngày 12-2-2020, Nghị viện châu Âu (EP) chính thức phê chuẩn Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu – Việt Nam (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư giữa Liên minh châu Âu (EU) với Việt Nam (EVIPA). Các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), EVFTA hay các hiệp định bảo hộ đầu tư tiêu chuẩn cao trở thành một xu hướng đáng chú ý trong khu vực, trên thế giới và đồng thời là lựa chọn chính sách kinh tế đối ngoại của Việt Nam.

Thực tế, tầm quan trọng của các hiệp định này yêu cầu phải có cách tiếp cận chiến lược trên cả ba khía cạnh: thời gian, không gian và quy mô/tầm mức. Về thời gian, EVFTA và EVIPA sẽ tạo ra các tác động lâu dài, đáng kể đến sự phát triển kinh tế và triển khai chính sách đối ngoại của Việt Nam. Về không gian, các hiệp định này giúp Việt Nam đa dạng hóa đối tác, mở rộng không gian chiến lược trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn ngày càng gia tăng. Về quy mô/tầm mức, các cam kết đối với hai hiệp định này liên quan đến nhiều lĩnh vực và đều hướng tới các tiêu chuẩn cao, góp phần đưa Việt Nam lên nấc thang mới trong chuỗi cung ứng và giá trị toàn cầu.

Bối cảnh của Hiệp định

Nếu nhìn nhận bối cảnh trên ba cấp độ quốc tế, khu vực và quốc gia, EVFTA và EVIPA được khởi động và kết thúc đàm phán trong các điều kiện sau.

Continue reading

PHÁP LUẬT VỀ LẬP VI BẰNG ĐỐI VỚI BẤT ĐỘNG SẢN

PGS.TS PHAN TRUNG HIỀN – Khoa Luật, Đại học Cần Thơ.

CHỬ DUY THANH – Văn phòng công chứng Nguyễn Thanh Đình, Thành phố Cần Thơ

1. Khái quát về vi bằng  

Vi bằng và lập vi bằng gắn liền với hoạt động của Thừa phát lại[1]. Việc lập vi bằng hiểu một cách đơn giản là việc mô tả chính xác những sự kiện, hành vi mà Thừa phát lại nhìn thấy, nghe thấy, sờ thấy,… Hay nói cách khác, lập vi bằng là việc Thừa phát lại sử dụng giác quan của mình để ghi nhận lại sự thật khách quan[2]. Pháp luật hiện hành quy định: “Vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập, ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác”[3].

Với cách định nghĩa này, vi bằng được lập dùng làm chứng cứ cho tổ chức, cá nhân sử dụng trong xét xử hoặc các quan hệ pháp lý khác và việc lập vi bằng của Thừa phát lại có một số đặc điểm, yêu cầu sau[4]:

– Hình thức của vi bằng là văn bản. Văn bản này phải do chính Thừa phát lại lập, họ không được ủy quyền hay nhờ người khác lập và ký tên thay mình trên vi bằng;

– Việc lập vi bằng phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật về hình thức và nội dung của văn bản;

Continue reading

TÌNH HÌNH XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI VIỆT NAM QUA CÁC GIAI ĐOẠN – CÁC VẤN ĐỀ CẦN QUAN TÂM VÀ KHUYẾN NGHỊ

 VŨ MAI CHI & TRẦN ANH QUÝ

Trong những năm qua, nợ xấu không chỉ là “căn bệnh” của hệ thống ngân hàng Việt Nam nói riêng, mà đã trở thành vấn đề đáng quan ngại của cả hệ thống ngân hàng – tài chính toàn cầu, đặc biệt sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cuối năm 2008 bắt nguồn từ Mỹ, lan rộng sang các nước lân cận và trên thế giới.

1. Tổng quan về nợ xấu và kết quả xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng tại Việt Nam qua các giai đoạn

Trong những năm qua, nợ xấu không chỉ là “căn bệnh” của hệ thống ngân hàng Việt Nam nói riêng, mà đã trở thành vấn đề đáng quan ngại của cả hệ thống ngân hàng – tài chính toàn cầu, đặc biệt sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cuối năm 2008 bắt nguồn từ Mỹ, lan rộng sang các nước lân cận và trên thế giới. Thuật ngữ “nợ xấu” đã trở thành chủ đề được đề cập đến tại nhiều nghiên ở các nước phát triển và các nước mới nổi, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, các nghiên cứu chú ý nhiều hơn đến việc đưa ra các giải pháp nhằm ngăn chặn rủi ro do nợ xấu mang lại, cũng như biện pháp hạn chế tỷ lệ nợ xấu cho hệ thống ngân hàng – tài chính thông qua đề xuất… “Nợ xấu được hiểu là khoản nợ mà quá thời hạn thanh toán một số ngày nhất định mà người đi vay không có khả năng thực hiện ngay nghĩa vụ trả nợ của mình đối với ngân hàng cho vay”, đây là kết quả của mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo. Nợ xấu vi phạm đặc trưng cơ bản của tín dụng là tính thời hạn, và tính hoàn trả đầy đủ, sau nữa, nó gây nên sự mất lòng tin của người cấp tín dụng đối với khách hàng nhận tín dụng. Việc phát sinh nợ xấu là điều không thể tránh khỏi, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng. Đây là vấn đề mà tất cả các NHTM trên thế giới phải đối mặt, nếu tỷ nợ xấu quá cao, hoạt động ngân hàng sẽ bị tê liệt vì các ngân hàng không có vốn để thanh toán cho người gửi tiền khi đến hạn. Ở mức độ trầm trọng, sẽ dẫn tới sự phá sản ngân hàng. Do đó, vấn đề quản lý rủi ro tín dụng, ngăn ngừa, hạn chế và xử lý nợ xấu là một công tác hết sức quan trọng tại các NHTM.

Continue reading

CÔNG ƯỚC CỦA HỘI ĐỒNG CHÂU ÂU VỀ TỘI PHẠM MẠNG

European Communities - Wikipedia Điều 1. Định nghĩa

Trong công ước này

a. “Hệ thống máy tính” là bất cứ thiết bị hoặc nhóm thiết bị có liên hệ với nhau, thực hiện quá trình xử lý dữ liệu một cách tự động theo một chương trình định sẵn.

b. “Dữ liệu máy tính” là bất cứ sự thể hiện tình tiết thực tế, thông tin hoặc khái niệm theo một hình thức tương thích với việc xử lý trong hệ thống máy tính, bao gồm chương trình phù hợp với việc làm cho hệ thống máy tính thực hiện một chức năng nhất định.

c. “Nhà cung cấp dịch vụ” có nghĩa:

– Một tổ chức (công hoặc tư) cung cấp khả năng liên lạc thông qua hệ thống máy tính cho người sử dụng dịch vụ ;

– Bất cứ tổ chức nào khác, thay mặt các tổ chức hoặc người sử dụng dịch vụ kể trên thực hiện việc xử lý hoặc lưu trữ dữ liệu máy tính;

Continue reading

BỘ QUY TẮC VỀ DỊCH VỤ CÔNG ĐỊA PHƯƠNG (CỘNG HÒA PHÁP)

Các thách thức của Bộ Quy tắc mẫu

Chính quyền địa phương các cấp và các hiệp hội của mình với tư cách là cơ quan phụ trách tổ chức tạo ra, xác định giới hạn cụ thể và triển khai các dịch vụ công thuộc thẩm quyền vì lợi ích của người dân mà họ đại diện.

Để đảm bảo chất lượng và hiệu quả của các dịch vụ này và để tăng cường tính liên kết xã hội và lãnh thổ, các hội đồng có quyền quyết định, các thị trưởng và các chủ tịch liên quan phải có các lựa chọn ngắn hạn và dài hạn tương ứng : lựa chọn phương thức quản lý, lựa chọn nhà thầu, xác định chất lượng và biểu phí dịch vụ, kiểm tra dịch vụ.

Bộ quy tắc mẫu này có mục tiêu làm sáng tỏ cách thức tiến hành và đạo đức người lãnh đạo của các chủ thể nêu trên trong một bối cảnh kinh tế và một môi trường lập quy ở cấp quốc gia và cấp Châu Âu có tính khuyến khích cao.

Ngoài các yêu cầu về tính liên tục, sự bình đẳng trong việc tiếp cận và tính linh hoạt, Bộ quy tắc đặc biệt hướng tới việc xác định các nguyên tắc và mục tiêu mà chính quyền địa phương các cấp phải dựa vào để quyết định việc tạo ra và các phương thức quản lý các dịch vụ công của mình.

Sáng kiến ở quy mô quốc gia này cũng đề cao việc chính quyền địa phương các cấp thực hiện đánh giá mẫu mực các hành động của mình. Việc đánh giá này chính là đối trọng của nguyên tắc phụ trợ và nguyên tắc tự quản lý trong khuôn khổ Cộng đồng Châu Âu và Pháp.

Continue reading

QUẢN TRỊ CÔNG TY NIÊM YẾT SỞ HỮU GIA ĐÌNH TẠI VIỆT NAM – GÓC NHÌN TỪ THỰC TIỄN

 HOÀNG HẢI YẾN – Đại học Ngoại thương Hà Nội

1. Đặt vấn đề

Hình mẫu tổ chức hoạt động và điều hành công ty theo lối gia đình trị được chứng minh là có khá nhiều thuận lợi, đặc biệt ở Việt Nam và có đóng góp lớn vào nền kinh tế quốc gia. Tuy nhiên, theo Forbes đánh giá, phương pháp tổ chức hoạt động theo hình thức trên theo thời gian cũng sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro và hệ luỵ phức tạp. Thực tế trên đặt ra những yêu cầu của việc cần thiết phải có những nghiên cứu một cách bài bản nghiêm túc về cách thức và phương pháp loại hình công ty này.

2. Khái quát chung về vai trò của công ty gia đình

Hiện nay vẫn còn đang tồn tại rất nhiều các cách định nghĩa khác nhau về Công ty gia đình (CTGĐ), các học giả vẫn đang tiếp tục tranh luận và chưa thực sự tìm ra tiếng nói chung trong cách tiếp cận cũng như đưa ra định nghĩa cụ thể về loại hình công ty này. Nhìn chung các cách định nghĩa CTGĐ thường bị phụ thuộc vào các điều kiện khác nhau về văn hoá, tôn giáo và khuôn khổ pháp lý.

Thực tế, trên thế giới, CTGĐ là loại hình doanh nghiệp tồn tại lâu đời và chiến số lượng đông đảo nhất. Đây có thể được xem là cách thức tổ chức sản xuất – kinh doanh nguyên thuỷ nhất. Tỷ trọng CTGĐ ở nhiều nước chiếm đến hơn 70% tổng số doanh nghiệp và đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo công an việc làm cho người lao động, ví dụ, theo thống kê của IFC 2008: tại Tây Ban Nha số lượng CTGĐ chiếm 75% tổng số các doanh nghiệp, đóng góp vào 65% tổng GNP; còn tại khu vực Mỹ La tinh, các công ty gia đình chiếm khoảng 60% tổng GNP. Các CTGĐ bao gồm tất cả các loại hình công ty từ quy mô nhỏ, vừa đến các tập đoàn kinh tế hoạt động đa dạng ở nhiều ngành nghề khác nhau. Tại các quốc gia khác nhau có tổn tại rất nhiều các thuật ngữ để chỉ mô hình CTGĐ như: “Zaibetsu” ở Nhật Bản, “cheabol” ở Hàn Quốc “giant” ở Mỹ, “grupo” ở các nước Mỹ La tinh.. Sự phổ biến đa dạng của các thuật ngữ trên thể hiện sự phổ biến của mô hình CTGĐ. Theo thống kê của Fortune 500, có rất nhiều CTGĐ thành công và lọt vào bảng xếp hạng danh sách 500 công ty lớn nhất Hoa Kỳ theo tổng thu nhập của mỗi công ty. Tại các quốc gia thuộc nhóm OECD, số lượng các CTGĐ chiếm khoảng 40-60% tổng số lượng các doanh nghiệp nói chung.

Continue reading