VIỆC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VỚI KHÁCH HÀNG VÀ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT LIÊN QUAN

VỤ PHÁP CHẾ – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

1. V thế chp đ bo đm nghĩa vụ ca bên th ba

Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba là một hợp đồng bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay của bên vay vốn đối với ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, hiệu lực pháp lý của loại hợp đồng này trong thực tiễn còn có nhiều ý kiến khác nhau và có thể để lại hệ quả xấu cho ngân hàng thương mại. Nội dung này trước đây khi Bộ luật Dân sự 2015 chưa ban hành, có hiệu lực, trên cơ sở thực tiễn một số bản án của TAND các cấp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam[1], Bộ Tư pháp[2] và Hiệp hội ngân hàng[3] cũng đã có ý kiến chính thức, phản ánh gửi đến TAND tối cao. Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện tổng kết quy định của Nghị định số 163/2016/NĐ-CP, Ngân hàng Nhà nước vẫn tiếp tục nhận được phản ánh của một số TCTD [4]liên quan đến vấn đề này.

Theo đó, quy định về thế chấp tài sản tại Điều 317 Bộ luật dân sự 2015, Ðiều 342 Bộ luật Dân sự 2005 đã xác định bên thế chấp có quyền dùng tài sản của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, không hạn chế đó là nghĩa vụ của mình hay của người khác. Đồng thời, theo quy định tại Điều 336 Bộ luật Dân sự 2015, bên bảo lãnh có thể sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Tuy nhiên, hiện nay, trong quá trình giải quyết tranh chấp của ngành Tòa án chưa có quan điểm thống nhất chấp nhận giao dịch bảo đảm dưới hình thức cầm cố, thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự cho người khác (bên thứ ba); không chấp nhận giao dịch bảo đảm thế chấp, cầm cố mà coi là bảo đảm bằng biện pháp bảo lãnh. Thực tế thời gian qua một số Tòa án địa phương [5]đã có quan điểm Hợp đồng thế chấp/cầm cố tài sản của bên thứ ba là không đúng quy định của Bộ luật dân sự và tuyên hợp đồng này vô hiệu. Việc tòa án ra quyết định tuyên vô hiệu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba giữa bên thế chấp và bên nhận thế chấp là không phù hợp với các quy định của pháp luật về thế chấp bằng QSDÐ của bên thứ ba và gây nên sự xáo trộn rất lớn trong đời sống xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch, đồng thời có thể tạo ra một hoặc nhiều hệ quả pháp lý không mong muốn như sau:

Continue reading

ĐƯA HỘ KINH DOANH VÀO LUẬT SẼ KÉO LÙI LUẬT DOANH NGHIỆP

TS. LÊ DUY BÌNH

Luật Doanh nghiệp được đánh giá là một trong những luật trong lĩnh vực kinh tế có chất lượng tốt nhất của Việt Nam kể từ khi bắt đầu Đổi mới.

Tuy nhiên, ý tưởng đưa hộ kinh doanh vào Luật Doanh nghiệp trong lần sửa đổi này, nếu thành hiện thực, sẽ làm sứt mẻ hình ảnh đẹp đẽ của Luật Doanh nghiệp.

Phá vỡ cấu trúc, tư tưởng và logic của Luật Doanh nghiệp

Đưa hộ kinh doanh thành một loại hình doanh nghiệp vào Luật Doanh nghiệp và vỡ cấu trúc và logic của luật, khiến bộ luật rất tiến bộ này trở thành một luật chứa đựng đầy mâu thuẫn về phương diện khoa học pháp lý và về thực tiễn.

Điều đó có thể đe dọa tới sự phát triển bền vững của khu vực hộ kinh doanh cá thể và không thể hiện được một triết lý và một phương pháp luận đầy đủ, tổng thể nhằm hỗ trợ sự phát triển của khu vực này. Thậm chí, ngáng đường cho những cải cách của khu vực hộ kinh doanh bởi những luật và quy định khác trong thời gian tới do đặt vị thế của hộ kinh doanh vào “một sự đã rồi”.

Luật Doanh nghiệp đã quy định đầy đủ các hình thức pháp lý như pháp nhân kinh doanh với các hình thức như cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, và thậm chí rất mở với các hình thức như doanh nghiệp TNHH một thành viên.

Luật Doanh nghiệp cũng quy định các hình thức cá nhân kinh doanh như doanh nghiệp tư nhân (đáng nhẽ ra phải được gọi là doanh nghiệp cá thể hoặc doanh nghiệp một chủ). Nếu đưa hộ kinh doanh vào luật, câu hỏi đặt ra là bản chất về tư cách pháp lý của hộ kinh doanh sẽ là gì. Continue reading

THÀNH LẬP VÀ TỔ CHỨC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THEO PHÁP LUẬT CỘNG HÒA PHÁP

BẢN DỊCH CỦA NHÀ PHÁP LUẬT VIỆT – PHÁP 

1. Trong nửa đầu thế kỷ XIX, nhiều học giả đã có tư tưởng cho rằng để đảm bảo và phát huy tính liên tục của lợi ích công trước những biến đổi khó lường của các hoạt động tư nhân thì cách tốt nhất là sử dụng đến doanh nghiệp nhà nước. Tuỳ vào mục đích thành lập, doanh nghiệp nhà nước có thể được tổ chức dưới các hình thức khác nhau.

Vào thời kỳ đó, phạm vi hoạt động của Nhà nước chỉ giới hạn ở bốn lĩnh vực truyền thống là quốc phòng, tư pháp, tài chính tiền tệ và đối ngoại. Dưới chế độ Nhà nước-cảnh sát, đại đa số các dịch vụ công đều được tư nhân hoá. Ngân hàng quốc gia Pháp khi được thành lập vào năm 1800 có quy chế là một đơn vị kinh tế tư nhân, các công trình lớn của Nhà nước cũng đều được giao cho tư nhân thực hiện.

Chiến tranh thế giới thứ nhất đặt dấu chấm hết cho một giai đoạn lịch sử kéo dài của chủ nghĩa kinh tế tự do. Lạm phát gia tăng làm phá sản tầng lớp người sống nhờ lợi tức, thể hiện sự yếu thế của hoạt động kinh tế tư nhân và làm giảm tính năng động của khu vực tư nhân. Trong bối cảnh đó đã xuất hiện một học thuyết mới bắt nguồn từ tư tưởng chủ nghĩa Mác, nhìn nhận thặng dư tư bản là kết quả bóc lột của giới chủ đối với người lao động và do đó cần lấy Nhà nước để thay thế cho giới chủ.

2. Trong thực tế, khu vực doanh nghiệp nhà nước đã mở rộng và phát triển qua ba giai đoạn kế tiếp nhau:

– Sau chiến tranh thế giới thứ nhất (1919), Nhà nước thành lập mới nhiều doanh nghiệp nhà nước (chủ yếu là các công ty khai thác cảng độc lập) và các công ty công tư hợp doanh (Công ty khai thác dầu khí Pháp, Công ty hàng không Pháp Air France v.v…). Khi Mặt trận dân tộc lên nắm quyền (1935) thì những vụ quốc hữu hoá đầu tiên bắt đầu được tiến hành (đường sắt, quân dụng).

Continue reading

KINH NGHIỆM NHẬT BẢN TRONG XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM, KHUYẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM

LS. EDAGAWA MITSUSHI – Chuyên gia JICA

Continue reading