Chế độ hôn sản pháp định: MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

TS. NGÔ THANH HƯƠNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Khái niệm và bản chất pháp lý của chế độ hôn sản pháp định

Theo quan niệm của các nước theo hệ thống Civil Law, kết hôn tạo ra những hậu quả pháp lý về tài sản cho vợ chồng. Quy định của pháp luật về chế độ hôn sản còn được gọi là chế độ tài sản vợ chồng.

Dựa trên tiêu chí chủ thể xác lập, người ta phân loại chế độ hôn sản thành: (i) chế độ hôn sản ước định và (ii) chế độ hôn sản pháp định (chế độ tài sản vợ chồng theo luật định trong pháp luật Việt Nam). Ngược lại với chế độ hôn sản ước định là những quy tắc chi phối quan hệ tài sản vợ chồng dựa trên sự thoả thuận của vợ chồng. Chế độ hôn sản pháp định được định nghĩa là tất cả các quy tắc chi phối quan hệ tài sản vợ chồng mà các quy tắc này dựa trên các căn cứ pháp luật. Hiểu theo nghĩa hẹp, chế độ hôn sản pháp định là toàn bộ các quy tắc mà pháp luật quy định nhằm điều chỉnh các quyền và nghĩa vụ liên quan đến sản nghiệp của vợ chồng.

Có ý kiến cho rằng, về bản chất pháp lý, chế độ hôn sản pháp định cũng chỉ là một chế độ ước định nhưng là một chế độ ước định mặc nhiên[1]. Theo quan điểm này, nếu các bên kết hôn không lập thoả thuận hôn sản thì suy luận rằng: họ đã mặc nhiên (thống nhất ý chí) lựa chọn chế độ hôn sản pháp định.

Continue reading

GIẢI ĐÁP MỘT SỐ VƯỚNG MẮC VỀ HÌNH SỰ, HÀNH CHÍNH, DÂN SỰ VÀ KINH DOANH, THƯƠNG MẠI CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI VĂN BẢN SỐ 212/TANDTC-PC NGÀY 13 THÁNG 9 NĂM 2019 (Trích dẫn)

Kính gửi: – Các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự;

– Các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao.

Ngày 29-7-2019, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã tổ chức phiên họp trực tuyến để giải đáp một số vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, hành chính, dân sự và kinh doanh, thương mại. Trên cơ sở các ý kiến phản ánh vướng mắc và giải đáp của Hội đồng Thẩm phán, Tòa án nhân dân tối cao thông báo kết quả giải đáp vướng mắc như sau:

1. Vướng mắc về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (quy định tại Điều 201 của Bộ luật Hình sự)

– Khoản tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự là tổng số tiền lãi thu được từ việc cho vay hay là khoản tiền lãi thu được sau khi trừ đi tiền lãi theo quy định của Bộ luật Dân sự?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự thì: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay…”. Do đó, khoản tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự là số tiền lãi thu được sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự.

– Khoản tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự trong vụ án là tổng số tiền lãi mà người phạm tội thu được của tất cả những người vay hay số tiền lãi thu được của từng người vay?

Khoản tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự là tổng số tiền lãi mà người phạm tội thu được của tất cả những người vay, nếu hành vi cho vay lãi nặng được thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian.

Continue reading

TỔNG QUÁT PHÁP LUẬT VỀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM NGHĨA VỤ DÂN SỰ CỦA CỘNG HÒA PHÁP

MICHEL GRIMALDI – Giáo sư trường Đại học Paris II, Panthéon-Assas, Cộng hòa Pháp

Trong phần giới thiệu tổng quát này, tôi muốn nhấn mạnh 3 vấn đề. Đầu tiên là lợi ích của các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự (BPBĐ) nói chung. Thứ hai là phân loại các BPBĐ và thứ ba là quá trình phát triển lịch sử của pháp luật về các BPBĐ của Pháp. Đây là ba nội dung của phần giới thiệu tổng quát này.

Vấn đề thứ nhất, lợi ích của các BPBĐ là gì? Để hiểu được lợi ích của các BPBĐ, phải xuất phát từ tình huống một chủ nợ không có bảo đảm và không được thanh toán, có nghĩa là một chủ nợ không dùng các BPBĐ và con nợ không thanh toán. Tình trạng của chủ nợ này được xác định bởi hai nguyên tắc cơ bản được quy định tại các Điều 2284 và 2285 BLDS Pháp. Nguyên tắc đầu tiên được quy định tại Điều 2284 mà theo đó chủ nợ có quyền cầm cố nói chung trên tất cả các tài sản của con nợ. Nhưng ở đây, cần phải chú ý đến các từ ngữ, khi nói rằng chủ nợ không có bảo đảm có quyền cầm cố nói chung, từ “cầm cố” không chỉ một BPBĐ mà chỉ có nghĩa đơn giản là chủ nợ không có bảo đảm có thể kê biên mọi tài sản của con nợ. Nhưng cũng cần chú ý, nếu Điều 2284 quy định rằng chủ nợ không có bảo đảm có thể kê biên mọi tài sản của con nợ thì điều đó có nghĩa rằng họ không thể kê biên những tài sản khác ngoài những tài sản thuộc về con nợ. Điều này có nghĩa rằng họ không thể kê biên các tài sản đã từng thuộc về con nợ nhưng con nợ đã chuyển nhượng hoặc bán đi. Theo ngôn ngữ chuyên ngành, người ta nói rằng chủ nợ không có bảo đảm không có quyền truy đuổi tài sản vì họ không thể được thanh toán bằng các tài sản đã từng thuộc về con nợ nhưng con nợ đã chuyển nhượng. Đó là nguyên tắc đầu tiên theo Điều 2284 BLDS.

Continue reading

PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI PHI CHÍNH THỨC: QUAN NIỆM CỦA PHÁP LUẬT ITALIA, THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI ĐỨC VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT CHO VIỆT NAM

NCS. LÊ NGUYỄN GIA THIỆN – Giảng viên Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

LÊ NGUYỄN GIA THUẬN – Sinh viên, Trường Đại học Luật Thành phồ Hồ Chí Minh

1. Những vấn đề cơ bản về phán quyết trọng tài phi chính thức

1.1. Quan niệm của Italia về phán quyết trọng tài phi chính thức

Tố tụng trọng tài là một quy trình tố tụng tư, hoàn toàn thượng tôn sự thỏa thuận của các bên tranh chấp. Các bên tranh chấp, tùy theo nhu cầu và nguyện vọng của mình có quyền thỏa thuận về tất cả các vấn đề, các bước của toàn bộ quy trình tố tụng. Có một nguyên tắc được thực tiễn trọng tài thương mại quốc tế áp dụng rộng rãi cũng như được ghi nhận rõ ràng trong pháp luật trọng tài của các nước đó là các bên hoàn toàn được quyền thỏa thuận về nội dung vụ tranh chấp của chính mình. Cơ quan giải quyết tranh chấp, tức hội đồng trọng tài (HĐTT)[1], sẽ ghi nhận một cách cụ thể tất cả những sự thỏa thuận của các bên về nội dung vụ tranh chấp trong một phán quyết trọng tài, gọi là “phán quyết đồng thuận” (agreed award hay consent award)[2]. Phán quyết đồng thuận có giá trị pháp lý và có khả năng thi hành một cách hoàn toàn như phán quyết toàn phần[3] và phán quyết từng phần[4].

Quy trình tố tụng trọng tài kết thúc với việc HĐTT ra một phán quyết, có hiệu lực ràng buộc và chung thẩm như bản án của một tòa án, là hết sức phổ biến và được dự liệu trong pháp luật trọng tài của tất cả các quốc gia trên thế giới. Thế nhưng, ở Italia[5], lại có hai quan niệm khác nhau về quy trình tố tụng trọng tài. Theo đó, quy trình trọng tài mà các bên lựa chọn có thể rơi vào một trong hai tình huống hoàn toàn riêng biệt là quy trình trọng tài chính thức (arbitrato rituale) và quy trình trọng tài phi chính thức (arbitrato irrituale). Quy trình trọng tài chính thức là quy trình tố tụng trọng tài thông thường được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Theo quy trình này, trọng tài, đóng vai trò là các thẩm phán tư nhân, sẽ ban hành một hoặc nhiều phán quyết về nội dung vụ tranh chấp, phán quyết này mang giá trị chung thẩm và ràng buộc các bên như là bản án của một tòa án. Ngược lại, quy trình trọng tài phi chính thức không dẫn đến việc ban hành phán quyết của cơ quan trọng tài. Trong quá khứ, pháp luật Italia chỉ xem trọng tài phi chính thức như là một hình thức tập quán giải quyết tranh chấp[6]. Thế nhưng, luật trọng tài hiện tại của Italia đã quy định rất cụ thể hình thức trọng tài này.Dù vẫn còn có nhiều cách hiểu khác nhau giữa các luật gia Italia về nội dung và cách thức áp dụng quy trình trọng tài phi chính thức, nhưng các luật gia đều đồng ý rằng quy trình trọng tài phi chính thức là quy trình hoàn toàn dựa trên sự chủ động của các bên, và chính các bên, chứ không phải HĐTT, mới là người thiết lập nên phán quyết trọng tài nhằm giải quyết tranh chấp. Phán quyết được thiết lập dựa hoàn toàn vào ý chí của các bên và trọng tài chỉ đóng vai trò là người chứng kiến sự thỏa thuận được gọi là phán quyết trọng tài phi chính thức (PQPCT)[7].

Continue reading

VƯỚNG MẮC TRONG TRƯỜNG HỢP BỊ ĐƠN YÊU CẦU CHIA TÀI SẢN CHUNG TRONG VỤ ÁN LY HÔN

NGUYỄN VĂN BẢO – Phó Chánh án TAND huyện Chư Păh, Gia Lai

Thông thường trong vụ án tranh chấp về hôn nhân & gia đình, Tòa án phải giải quyết đồng thời cả 3 mối quan hệ, đó là quan hệ về hôn nhân, quan hệ về nuôi con chung và quan hệ về chia tài sản. Tuy nhiên theo đơn khởi kiện, yêu cầu của đương sự có thể Tòa án chỉ giải quyết một hoặc hai trong 3 mối quan hệ trên.

Trong phạm vi bài này chúng tôi chỉ đề cập đến vấn đề vướng mắc theo quy định pháp luật tố tụng dân sự trong trường hợp nguyên đơn trong vụ án ly hôn không yêu cầu chia tài sản chung nhưng bị đơn trong vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình (HNGĐ) lại yêu cầu chia tài sản chung.

Bị đơn yêu cầu chia tài sản chung

Trong tranh chấp về HNGĐ, nhiều vụ án nguyên đơn (vợ hoặc chồng) khởi kiện chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, phân chia quyền nuôi con, nghĩa vụ, mức cấp dưỡng khi ly hôn mà không yêu cầu phân chia tài sản chung, nhưng trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết thì bên bị đơn có yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng. Tranh chấp về chia tài sản chung bao gồm nhiều dạng: tài sản mà vợ chồng thống nhất là tài sản chung nhưng không thống nhất được cách chia; tài sản mà họ không thống nhất được với nhau là tài sản chung như: tranh chấp do một bên cho rằng là tài sản chung, bên kia cho rằng tài sản riêng hoặc có tranh chấp cho rằng là tài sản của người thứ ba, hoặc không có tài sản đó…

Nếu trong vụ án tranh chấp về dân sự thì Tòa án sẽ thụ lý theo thủ tục “Yêu cầu phản tố” của bị đơn còn trong vụ án tranh chấp về HNGĐ pháp luật về tố tụng không quy định về thủ tục này dẫn đến tùy theo từng Thẩm phán, từng Tòa án có mỗi cách giải quyết khác nhau không thống nhất và có nhiều quan điểm khác nhau:

Continue reading