GIAO DỊCH BẢO ĐẢM CÓ ĐỐI TƯỢNG LÀ TÀI SẢN TƯƠNG LAI

THS. BÙI ĐỨC GIANG, Công ty Luật Audier and Partners Vietnam LLC

Giao dịch bảo đảm có đối tượng là tài sản tương lai thường là một phần của gói giao dịch bảo đảm dành cho các chủ nợ tài chính. Thế chấp là biện pháp bảo đảm phù hợp do thế chấp không đặt ra yêu cầu chuyển giao tài sản bảo đảm cho bên nhận thế chấp. Tuy vẫn còn một số điểm hạn chế trong quy định hiện hành song pháp luật về giao dịch bảo đảm đã đề cập các khía cạnh khác nhau của loại hình giao dịch bảo đảm này và do đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác lập, công bố giao dịch bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm.

1. Giá trị pháp lý của giao dịch bảo đảm đối với tài sản tương lai

Nguyên tắc chung – Pháp luật Việt Nam công nhận bốn loại tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản (điều 163, Bộ luật dân sự). Theo quy định của Bộ luật dân sự, đối tượng của giao dịch bảo đảm có thể có là vật hình thành trong tương lai (khoản 2 điều 320) và tài sản thế chấp có thể là tài sản được hình thành trong tương lai (khoản 1, điều 342). Thêm vào đó, khoản 1, điều 4, Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm được bổ sung, sửa đổi bởi Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 2 năm 2012 (Nghị định 163) quy định tài sản bảo đảm có thể là tài sản hình thành trong tương lai mà pháp luật không cấm giao dịch. Do đó về nguyên tắc có thể xác lập giao dịch bảo đảm đối với tài sản tương lai[2]. Tuy vậy, do cầm cố đặt ra yêu cầu phải chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm cồ (điều 326 và điều 328, Bộ luật dân sự) trong khi không có việc chuyển giao tài sản bảo đảm cho bên nhận thế chấp trong giao dịch thế chấp (khoản 1, điều 342, Bộ luật dân sự) nên tài sản tương lai chỉ có thể là đối tượng của giao dịch thế chấp[3].

Có thể thấy tài sản tương lai (future property/asset, after-acquired property/asset) là một loại tài sản đặc biệt. Thông thường để trở thành đối tượng của một giao dịch bảo đảm, tài sản phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm (khoản 1, điều 320 và khoản 1, điều 322, Bộ luật dân sự). Thế chấp tài sản hình thành trong tương lai là một ngoại lệ của nguyên tắc này.

Khái niệm tài sản tương lai Khoản 2, điều 4, Nghị định 163, tài sản hình thành trong tương lai không bao gồm quyền sử dụng đất và bao gồm (i) tài sản được hình thành từ vốn vay; (ii) tài sản đang trong giai đoạn hình thành hoặc đang được tạo lập hợp pháp tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm và (iii) tài sản đã hình thành và thuộc đối tượng phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm thì tài sản đó mới được đăng ký theo quy định của pháp luật.

Cách phân loại này khá trùng lặp và có vẻ chỉ hướng tới các tài sản hữu hình đã hoặc đang được tạo lập về mặt vật chất. Nó chưa tính đến thời điểm bên bảo đảm có quyền sở hữu tài sản – một tiêu chí quan trọng để xác định tính tương lai của tài sản bảo đảm. Hơn nữa, danh sách tài sản tương lai này không phù hợp với các tài sản vô hình[4].

Continue reading

MỘT SỐ VƯỚNG MẮC trong xét, thẩm định tại chỗ khi giải quyết các vụ án dân sự

LÊ THỊ HIỀN – Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa

Theo quy định tại điều 85, điều 89 Bộ luật tố tụng dân sự, xem xét, thẩm định tại chỗ là một trong những biện pháp để thu thập tài liệu, chứng cứ do Thẩm phán tiến hành khi thấy cần thiết, có thể là theo yêu cầu của đương sự hoặc do Thẩm phán chủ động tiến hành và phải được thực hiện theo trình tự do pháp luật quy định. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin đề cập đến hai vướng mắc chính trong thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về xem xét, thẩm định tại chỗ: thứ nhất là chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ; thứ hai là cách xử lý khi đương sự không hợp tác với Tòa án trong việc xem xét, thẩm định tại chỗ.

1. Về vấn đề chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ

Chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ là một trong những chi phí tố tụng. Tuy nhiên, Mục 2 chương IX Bộ luật tố tụng dân sự về các chi phí tố tụng khác (ngoài án phí, lệ phí Tòa án) chỉ quy định về chi phí giám định, định giá tài sản, chi phí cho người làm chứng, người phiên dịch, luật sư mà không có điều nào quy định về chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ và cũng không có điều luật nào quy định rằng chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ không phải một trong những chi phí tố tụng khác và không cho phép Tòa án thu tiền của đương sự để chi cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ. Vì vậy, việc các Tòa án hiện nay vẫn xác định chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ là chi phí tố tụng khác và thực hiện việc thu, chi liên quan đến hoạt động tố tụng này là không sai. Tuy nhiên, do không có quy định cụ thể về trình tự thủ tục thu, chi, xác định trách nhiệm của các bên đương sự liên quan đến loại chi phí này nên mỗi Tòa án thực hiện một cách khác nhau, trong cùng một Tòa án, mỗi thẩm phán cũng có cách thực hiện khác nhau, thậm chí cùng một Thẩm phán nhưng cũng có những vụ án thực hiện không giống nhau; nhưng nhìn chung, các Tòa án đã áp dụng các nguyên tắc chung của Bộ luật tố tụng dân sự quy định về các chi phí tố tụng khác tại Mục 2 chương IX Bộ luật này trong việc xem xét, thẩm định tại chỗ và thực tế chi phí được vận dụng một cách linh hoạt tùy thuộc vào từng vụ án cụ thể trên tinh thần tiết kiệm chi.

Thực tế những khoản chi trong việc xem xét, thẩm định tại chỗ thường bao gồm những khoản sau:

Continue reading

MỘT SỐ VƯỚNG MẮC TRONG VIỆC XEM XÉT, THẨM ĐỊNH TẠI CHỖ KHI GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ

LÊ THỊ HIỀN, Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa

Theo quy định tại điều 85, điều 89 Bộ luật tố tụng dân sự, xem xét, thẩm định tại chỗ là một trong những biện pháp để thu thập tài liệu, chứng cứ do Thẩm phán tiến hành khi thấy cần thiết, có thể là theo yêu cầu của đương sự hoặc do Thẩm phán chủ động tiến hành và phải được thực hiện theo trình tự do pháp luật quy định. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin đề cập đến hai vướng mắc chính trong thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về xem xét, thẩm định tại chỗ: thứ nhất là chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ; thứ hai là cách xử lý khi đương sự không hợp tác với Tòa án trong việc xem xét, thẩm định tại chỗ.

1. Về vấn đề chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ

Chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ là một trong những chi phí tố tụng. Tuy nhiên, Mục 2 chương IX Bộ luật tố tụng dân sự về các chi phí tố tụng khác (ngoài án phí, lệ phí Tòa án) chỉ quy định về chi phí giám định, định giá tài sản, chi phí cho người làm chứng, người phiên dịch, luật sư mà không có điều nào quy định về chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ và cũng không có điều luật nào quy định rằng chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ không phải một trong những chi phí tố tụng khác và không cho phép Tòa án thu tiền của đương sự để chi cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ. Vì vậy, việc các Tòa án hiện nay vẫn xác định chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ là chi phí tố tụng khác và thực hiện việc thu, chi liên quan đến hoạt động tố tụng này là không sai. Tuy nhiên, do không có quy định cụ thể về trình tự thủ tục thu, chi, xác định trách nhiệm của các bên đương sự liên quan đến loại chi phí này nên mỗi Tòa án thực hiện một cách khác nhau, trong cùng một Tòa án, mỗi thẩm phán cũng có cách thực hiện khác nhau, thậm chí cùng một Thẩm phán nhưng cũng có những vụ án thực hiện không giống nhau; nhưng nhìn chung, các Tòa án đã áp dụng các nguyên tắc chung của Bộ luật tố tụng dân sự quy định về các chi phí tố tụng khác tại Mục 2 chương IX Bộ luật này trong việc xem xét, thẩm định tại chỗ và thực tế chi phí được vận dụng một cách linh hoạt tùy thuộc vào từng vụ án cụ thể trên tinh thần tiết kiệm chi.

Thực tế những khoản chi trong việc xem xét, thẩm định tại chỗ thường bao gồm những khoản sau:

Continue reading