TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO TÀI SẢN BỊ XÂM PHẠM: HƯ BẢY QUẢ TRỨNG CHIM, ĐÒI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CẢ VẬT CHẤT VÀ TINH THẦN

DƯƠNG HẰNG

Hiện chưa có quy định bồi thường tổn thất tinh thần đối với thiệt hại về vật nuôi. Bị đơn chỉ đồng ý bồi thường trứng theo giá bán ngoài thị trường.

Đầu năm 2010, ông D. (62 tuổi, ở Thanh Hóa) được bạn tặng bảy quả trứng chim quý nên ông quyết định ươm giống. Theo quan niệm dân gian nơi ông sinh sống, muốn trứng chim nở dễ dàng thì phải đem trứng vùi vào cám gạo để bên cạnh chim mẹ trong vòng một ngày sau đó mới đưa cho chim mẹ tự ấp…

Trứng thối, chim rụng lông

Do gia đình không có cám gạo nên ông D. đem bảy quả trứng chim kèm con chim kiểng của mình (làm chim mẹ) sang nhà ông B. (hàng xóm) gửi nhờ. Sau khi dặn dò kỹ lưỡng cách thức, công đoạn “tiền ấp trứng”, ông về và hẹn sang ngày mai đến lấy trứng và chim.

Đến hẹn, ông D. sang nhà hàng xóm thì được ông B. cho biết đã đem trứng cho chim mẹ ấp. Lúc này ông D. tỏ ra gay gắt cho rằng bạn làm sai công thức và có nguy cơ làm hỏng cả chim lẫn trứng. Lời qua tiếng lại một lúc, ông D. đành phải đưa chim và trứng về nhà.

Một tuần sau, bảy quả trứng chim bốc mùi thối còn con chim kiểng bắt đầu rụng lông đầu và đuôi. Xót của, tiếc chim, ông D. liền chạy qua nhà ông hàng xóm bắt đền. Tuy nhiên, cả hai bên không tìm được tiếng nói chung, thậm chí còn xung đột dẫn đến cãi vã…

Mọi chuyện bẵng đi hơn một năm, mới đây đầu tháng 4-2012, ông D. khởi kiện ra tòa.

Đòi phi lý, không chấp nhận

Theo đơn kiện, ông D. giãi bày bản thân ông rất yêu chim và muốn ươm thật nhiều giống quý. Bảy quả trứng chim trên cũng là giống quý nên ông không muốn đem ra lò ấp vì sợ khi trứng nở, chim non bị bắt trộm. Do vậy ông quyết định tự mình ươm giống.

Continue reading

BẢO HỘ CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM: MỘT SỐ VẤN ĐỀ DOANH NGHIỆP CẦN BIẾT

NGUYỄN VÂN ANH – Sở KH&CN Bà Rịa – Vũng Tàu; NGUYỄN BẢO HÙNG – Bộ KH&CN; LÊ VŨ TOÀN – Trường quản lý KH&CN, Bộ KH&CN

Một trong những giải pháp của doanh nghiệp đối phó với tình trạng khủng hoảng kinh tế hiện nay là đầu tư đổi mới công nghệ để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, việc bảo hộ công nghệ(1) – một loại hình vũ khí cạnh tranh đặc biệt lại chưa được các doanh nghiệp quan tâm đúng mức. Nội dung này sẽ được các tác giả nêu ra để bạn đọc cùng trao đổi, rút ra những kinh nghiệm thiết thực đối với các tình huống cụ thể khi tham gia các giao dịch liên quan.

Công nghệ và bảo hộ công nghệ

Công nghệ là loại hình hàng hóa đặc biệt, được các quốc gia trên thế giới khuyến khích phát triển và bảo hộ độc quyền khi thỏa mãn những điều kiện nhất định. Theo Luật Chuyển giao công nghệ (CGCN)(2), thì: “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”.

Bảo hộ công nghệ: hiện nay chưa có bất cứ tài liệu nào ở trong nước đề cập tổng quan đến vấn đề bảo hộ công nghệ. Theo Đại từ điển tiếng Việt(3), thì bảo hộ có nghĩa là “bảo vệ, che chở, bênh vực không để tổn thất thiệt hại”. Do vậy bảo hộ công nghệ có thể được hiểu “Là việc thực hiện các hình thức bảo vệ đối với đối tượng công nghệ và các chủ thể liên quan không để tổn thất thiệt hại”.

Công nghệ được bảo hộ trước hết là sự tự bảo vệ của chủ sở hữu và các bên liên quan ngoài ra còn dựa vào hệ thống pháp luật nhà nước, như việc định ra và áp dụng các chế tài pháp lý để ngăn chặn hoặc xử lý hành vi xâm phạm. Hệ thống pháp luật quốc tế cũng như pháp luật quốc gia phù hợp nhất cho bảo hộ các đối tượng công nghệ là pháp luật sở hữu trí tuệ (SHTT) với bản chất là đưa ra các hình thức bảo hộ cho các đối tượng công nghệ khác nhau nhằm bảo hộ độc quyền cho chủ sở hữu công nghệ. Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật về CGCN, thương mại, cạnh tranh, … cũng có một số chế tài nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của các bên tham gia giao dịch.

Các chủ thể liên quan trực tiếp đến việc hình thành và tham gia các giao dịch gắn với đối tượng công nghệ thường bao gồm: chủ sở hữu công nghệ, tác giả, bên mua công nghệ. Đồng thời, việc mua bán công nghệ thực chất là mua quyền sở hữu, quyền sử dụng công nghệ (Li xăng). Do vậy, bài viết tập trung vào các vấn đề sau: (1) Các hình thức pháp lý bảo hộ đối tượng công nghệ; (2) Xác định quyền của các chủ thể có liên quan; (3)Các vấn đề pháp lý liên quan đến quyền của chủ sở hữu và bên mua công nghệ trong giao dịch, mua bán công nghệ; (4) Kết luận về các vấn đề nêu trên.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 50/2012/NĐ-CP NGÀY 11 THÁNG 6 NĂM 2012 SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 70/2007/NĐ-CP NGÀY 20 THÁNG 4 NĂM 2007 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ ĐĂNG KÝ QUỐC TỊCH VÀ ĐĂNG KÝ CÁC QUYỀN ĐỐI VỚI TÀU BAY DÂN DỤNG

Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật hàng không dân dụng Việt Nam ngày 29 tháng 6 năm 2006;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải;

Chính phủ ban hành Nghị định về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 70/2007/NĐ-CP ngày 20 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về đăng ký quốc tịch và đăng ký các quyền đối với tàu bay dân dụng,

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 70/2007/NĐ-CP ngày 20 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ quy định về đăng ký quốc tịch và đăng ký các quyền đối với tàu bay dân dụng với nội dung sau đây:

1. Sửa đổi Khoản 1 và Khoản 3 Điều 3 như sau:

“1. Người đề nghị phải gửi 01 bộ hồ sơ đến Cục Hàng không Việt Nam bằng cách nộp trực tiếp tại Cục Hàng không Việt Nam hoặc qua hệ thống bưu điện và phải chịu trách nhiệm về sự chính xác của thông tin trong hồ sơ.

3. Trừ đơn đề nghị phải là bản gốc, các tài liệu khác trong hồ sơ đề nghị là bản gốc hoặc bản sao có chứng thực; nếu tài liệu bằng tiếng nước ngoài thì phải được dịch ra tiếng Việt Nam và phải chứng thực theo quy định của pháp luật.”

2. Sửa đổi Khoản 3 Điều 5 như sau:

“3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ đầy đủ theo quy định, Cục Hàng không Việt Nam thực hiện việc đăng ký, xóa đăng ký hoặc cung cấp thông tin bằng văn bản cho người đề nghị.”

3. Sửa đổi Khoản 1 Điều 7 như sau:

“1. Hồ sơ đề nghị đăng ký quốc tịch tàu bay đối với tàu bay quy định tại Khoản 4 và Khoản 5 Điều 13 của Luật hàng không dân dụng Việt Nam bao gồm:

a) Đơn đề nghị đăng ký quốc tịch tàu bay theo mẫu quy định tại Phụ lục I Nghị định này;

Continue reading

BÌNH LUẬN CHẾ ĐỊNH HỘ GIA ĐÌNH TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Công ty Luật BASICO

Hộ gia đình là một trong những chủ thể của quan hệ trong Bộ luật Dân sự năm 2005. Tuy nhiên, nó đã tạo ra vô vàn rắc rối pháp lý trong thực tế cuộc sống, vì tuy có quy định nhưng lại gần như không thể xác định được nếu dựa trên cơ sở pháp lý.

1. Khái niệm Hộ gia đình trong hệ thống pháp luật:

Hộ gia đình đã được nhắc đến trong các văn bản quy phạm pháp luật ít nhất là từ năm 1964. Tuy nhiên, đó chỉ là những khái niệm để giải quyết một số vấn đề chính sách xã hội như khoản 6, Điều 29, Luật Nghĩa vụ quân sự năm 1981 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 1990), đã quy định về một trong những đối tượng được hoãn gọi nhập ngũ trong thời bình, đó là “Người có anh, chị hoặc em ruột trong cùng một hộ gia đình là hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ”.

Sự rắc rối pháp lý bắt đầu xuất hiện từ Luật Đất đai năm 1993, khi đã “phát minh” ra Hộ gia đình là một trong những chủ thể sử dụng đất, bên cạnh các tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội và cá nhân. Gắn liền với việc này là quy định về Hộ gia đình là một trong những đối tượng nộp thuế theo Luật Thuế chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 1994. Đặc biệt, từ khi Bộ luật Dân sự năm 1995 chính thức ghi nhận Hộ gia đình là một chủ thể pháp lý tham gia quan hệ dân sự, thì mới thực sự gây ra nhiều khó khăn, rắc rối, nhiễu loạn các quan hệ pháp luật. Sau quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995 và năm 2005, Hộ gia đình đã như một thứ “dịch bệnh lây lan” ra hàng loạt đạo luật khác và các văn bản dưới luật.

Cho đến tháng 5-2012, đã có tới 52 đạo luật nhắc đến Hộ gia đình, trong đó có 12 đạo luật đã hết hiệu lực và 40 đạo luật đang có hiệu lực (xem Phụ lục 01: Danh mục các đạo luật đề cập đến Hộ gia đình).

Trong khi các chủ thể khác tham gia quan hệ dân sự đều được xác định một cách cụ thể, rõ ràng, nhưng cho đến nay vẫn không có cơ sở pháp lý để xác định thế nào là Hộ gia đình.

2. Về Hộ gia đình tham gia quan hệ dân sự:

Điều 106 về “Hộ gia đình”, Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này.”

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: TRUY NHẬN CHA CHO CON, KHÓ TRĂM BỀ

LS. ĐINH THỊ QUỲNH NHƯ – Trưởng Văn phòng luật sư An Luật

Vụ án nào cũng có những khó khăn dù ít dù nhiều cho người tiến hành xét xử khi phải thu thập, xem xét, đánh giá chứng cứ.

Với những vụ “truy nhận cha cho con” thì việc xét xử lại càng khó trăm bề.

Trước hết là về mặt chứng cứ. Nếu trong một giao dịch dân sự bình thường nào đó, các bên có thể tiến hành công khai, minh bạch, có giấy trắng, mực đen, có thể có thêm người làm chứng thì những sự vụ như thế này, thường chỉ có người trong cuộc biết rõ với nhau mà thôi.

Chứng cứ mù mờ, gánh nặng giám định

Phần lớn những vụ truy nhận cha cho con bắt nguồn từ một mối quan hệ oái oăm, chẳng hạn người đàn ông ngoại tình khi đang có gia đình. Đối với những vụ việc này, tòa căn cứ vào lời khai và các chứng cứ khác để chứng minh họ có quan hệ tình cảm như thư từ, email, hình ảnh… Tuy nhiên, từ quan hệ tình cảm để khẳng định có quan hệ tình dục để sinh ra đứa bé thì không có một căn cứ nào đảm bảo.

Nếu người cha sau khi được tòa phân tích, thấy được trách nhiệm của mình thì vụ việc còn có thể kết thúc tốt đẹp, bằng không thì đành phải cậy nhờ vào các giám định khác để làm căn cứ xét xử. Một biện pháp phổ biến mà ai cũng nghĩ ngay đến là xét nghiệm ADN. Nhưng chi phí để làm thủ tục xét nghiệm là cả một vấn đề lớn đối với không ít phụ nữ. Ngày nay, chi phí đã giảm khá nhiều (tương đương 10 triệu đồng) mà không ít phụ nữ còn không thể có để ứng ra, nói gì đến trước đây. Bao nhiêu trường hợp sau khi nhận được thông báo của tòa, người mẹ đó chỉ biết ngậm ngùi ôm con về buông xuôi mọi chuyện, chấp nhận con mình không có cha và đứa trẻ buộc phải chấp nhận rằng trong khai sinh của nó có một phần trống ở ô “tên họ người cha” cũng như một khoảng trống trong tâm hồn do thiếu vắng vai trò của người đã tạo ra mình.

Đương sự trốn, từ chối xét nghiệm

Nhiều trường hợp, người mẹ có đủ tiền xét nghiệm ADN nhưng rồi cũng không thể tiến hành để có kết quả cho tòa xét xử bởi người cha đã “nhấn nút” biến mất.

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH BỘ LUẬT DÂN SỰ: RẮC RỐI KHÔNG BIẾT NGƯỜI ỦY QUYỀN ĐÃ CHẾT

THANH TÙNG

Theo luật, việc ủy quyền của cá nhân chấm dứt khi người ủy quyền chết. Tuy nhiên, thực tế lại không đơn giản như vậy. Nhiều tình huống rắc rối đã phát sinh vì người ủy quyền chết nhưng không ai biết…

Đầu năm 2009, trước khi sang Mỹ, ông TVV đã ủy quyền cho một người bạn thân là ông Q. tham gia một vụ kiện đòi nợ tại TAND tỉnh T. Theo nội dung giấy ủy quyền hợp pháp giữa hai bên, ông Q. được toàn quyền quyết định các vấn đề liên quan trong vụ kiện, kể cả trong giai đoạn thi hành án.

Chết nhưng không biết tin

Sau khi ra nước ngoài, ông V. không hề chủ động liên lạc với ông Q. để hỏi diễn tiến sự việc. Ông Q. cũng không có cách nào trao đổi với bạn vì mọi cách liên lạc từ ngày xưa đều không có kết quả. Vì thế, ông luôn tự quyết các vấn đề liên quan đến vụ kiện theo ý của mình như nội dung ủy quyền. Phía tòa án cũng chỉ làm việc với ông mà không quan tâm đến sự có mặt của ông V.

Cuối năm 2010, tòa đã ra quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa ông Q. và phía bị đơn, nội dung ông Q. đồng ý bớt 1/3 số nợ gốc với điều kiện phía bị đơn phải trả tiền một lần. Sau đó, các bên cũng đã thực hiện thỏa thuận nên vụ việc được khép lại.

Gần đây, ông Q. nghe loáng thoáng được vài thông tin rằng bạn mình đã chết vì tai nạn giao thông ở Mỹ. Rồi ông nhận được hồ sơ từ Mỹ gửi về xác thực đúng là ông V. đã chết từ giữa năm 2010 tại Mỹ.

Vụ việc bắt đầu trở nên rắc rối: Theo luật, việc ủy quyền giữa ông V. và ông Q. đương nhiên chấm dứt khi ông V. chết. Ông V. chết vào giữa năm 2010, tức trước thời điểm ông Q. thỏa thuận thành với bị đơn trong vụ kiện đòi nợ (cuối năm này). Vậy quyết định công nhận sự thỏa thuận của tòa có hiệu lực pháp luật hay không khi mà bản thân ông Q. đã mất tư cách đại diện theo ủy quyền? Nếu quyết định của tòa không có căn cứ pháp lý thì khắc phục sai sót này ra sao? Phía bị đơn trong vụ kiện cũng đã thanh toán 2/3 số nợ gốc cho ông Q., phải giải quyết lại cho họ thế nào?

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ: CÔNG TY CÓ THÀNH VIÊN NGƯỜI NƯỚC NGOÀI, TÒA NÀO XỬ?

HỒNG TÚ

Bà T. khởi kiện công ty tranh chấp về tiền lương và các khoản bảo hiểm chứ không tranh chấp với cá nhân từng thành viên trong hội đồng thành viên công ty.

Thực tiễn đã phát sinh không ít vụ tranh chấp liên quan đến công ty có thành viên hội đồng là người nước ngoài. Trường hợp nào thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa cấp huyện, trường hợp nào thuộc tòa cấp tỉnh?

Tháng 3-2011, bà LTHT đã nộp đơn khởi kiện Công ty TNHH DV TM ĐT (viết tắt là Công ty ĐT) ra TAND quận Phú Nhuận để yêu cầu tòa buộc phía Công ty ĐT giải quyết tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho bà với tổng số tiền hơn 260 triệu đồng.

Tòa quận: Có yếu tố nước ngoài

Theo đơn khởi kiện, bà T. vào làm tại Công ty ĐT (trụ sở tại phường 9, quận Phú Nhuận) từ năm 2003. Từ đó đến tháng 8-2010, bà T. đã làm việc cho Công ty ĐT với nhiều chức vụ khác nhau. Tháng 9-2010, do đến tuổi nghỉ hưu theo luật định, bà T. đã viết đơn xin nghỉ việc với lý do hết tuổi lao động và yêu cầu Công ty ĐT thanh toán tiền lương, tiền phụ cấp, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và trợ cấp thôi việc nhưng phía công ty không thanh toán. Hòa giải không thành, bà T. buộc lòng phải khởi kiện công ty ra tòa.

Tháng 3-2011, TAND quận Phú Nhuận đã thụ lý vụ kiện. Sau khi xem xét hồ sơ, tòa phát hiện trong hội đồng thành viên của Công ty ĐT có ông Michael B.L. là người đang định cư tại nước ngoài (California, Mỹ). Theo tòa, bà T. khởi kiện Công ty ĐT nên ông Michael B.L. được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ kiện. Xác định là vụ án có yếu tố nước ngoài và thẩm quyền xét xử thuộc về TAND TP.HCM, tháng 9-2011, tòa đã ra quyết định chuyển hồ sơ vụ án lên TAND TP.HCM để xét xử theo đúng thẩm quyền.

Continue reading

BỘ LUẬT BÓP NGHẸT THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC -  Công ty Luật BASICO

Bình luận Dự thảo Bộ luật Lao động (Bản trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội 4 – 2012)

Để thúc đẩy thị trường lao động theo hướng tự do và cạnh tranh thị trường, nhưng Dự thảo Bộ luật Lao động dường như vẫn trói chặt, thậm chí là bóp nghẹt thị trường. Bên cạnh những sửa đổi chủ yếu mang tính kỹ thuật và cập nhật những quy định hiện hành dưới luật, thì Dự thảo Bộ luật Lao động có quá ít nội dung đổi mới, không những thế, còn giữ lại và bổ sung quá nhiều quy định chặt chẽ, trói buộc, vô lý, hình thức.

1. Ít nội dung mới, nhiều nội dung quá chặt chẽ, trói buộc, vô lý, hình thức:

– Dự thảo này còn mang nặng dấu ấn của Bộ luật Lao động cách đây gần 20 năm, đậm chất kinh tế XHCN thay vì Bộ luật của một nền kinh tế thị trường. Một loạt quy định của Dự thảo còn quá chặt chẽ, trói buộc, vô lý, hình thức như:

+ Quy định phi thị trường về Thời hạn hợp đồng (Điều 22 về “Loại hợp đồng lao động”);

+ Quy định phi thực tế về Chế độ nâng bậc, nâng lương (điểm e, khoản 1, Điều 23 về “Nội dung hợp đồng lao động”, khoản 2, Điều 124 về “Hình thức xử lý vi phạm kỷ luật lao động”,…);

+ Quy định quá chặt về việc Chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động (Điều 31 về “Chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động”);

+ Quy định không rõ về Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, dẫn đến đa số hiểu sai (Điều 37 về “Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động” và Điều 38 về “Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động”);

+ Quy định bất lợi cho người lao động về Hợp đồng lao động vô hiệu (Điều 51 về “Hợp đồng lao động vô hiệu”);

+ Quy định hình thức về Nội dung và ký kết thoả ước lao động tập thể (Điều 71 về “Thỏa ước lao động tập thể”, Điều 72 về “Ký kết thỏa ước lao động tập thể”);

+ Quy định ít tác dụng về Mức lương tối thiểu (khoản 1, Điều 88 về “Tiền lương”);

+ Quy định cứng nhắc về Thang lương, bảng lương và định mức lao động (Điều 92 về “Xây dựng thang lương, bảng lương và định mức lao động”);

+ Quy định quá trói buộc về Làm thêm giờ (Điều 105 về “Làm thêm giờ”);

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 91/TANDTC-KHXX NGÀY 28 THÁNG 6 NĂM 2011 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VIỆC ÁP DỤNG NGHỊ QUYẾT SỐ 1037/2006/NQ-UBTVQH11 NGÀY 27 THÁNG 7 NĂM 2006 CỦA ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI

Kính gửi:

– Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
– Tòa án nhân dân các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

Từ ngày Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH1 ngày 27 tháng 7 năm 2006 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1 tháng 7 năm 1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia, có hiệu lực (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 1037), hầu hết Tòa án các cấp đã áp dụng đúng các quy định trong Nghị quyết. Tuy nhiên qua hoạt động giám đốc, kiểm tra của các Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân tối cao, thì thấy còn có Tòa án nhận thức chưa đầy đủ về phạm vi áp dụng của Nghị quyết dẫn đến có trường hợp phải áp dụng Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20 tháng 8 năm 1998 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1 tháng 7 năm 1991 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 58) thì lại. Áp dụng Nghị quyết số 1037 và có trường hợp Tòa án phải áp dụng Nghị quyết số 1037 để giải quyết thì lại không áp dụng… Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của Nghị quyết số 1037 nêu trên, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

Tại Điều 1 Nghị quyết số 1037 đã quy định về phạm vi áp dụng Nghị quyết là:

"1. Nghị quyết này được áp dụng để giải quyết các giao dịch dân sự về nhà ở thuộc sở hữu tư nhân được xác lập trước ngày 1 tháng 7 năm 1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia, bao gồm:

a) Thuê nhà ở;

b) Mượn nhà ở, ở nhờ nhà ở;

c) Mua bán nhà ở;

d) Đổi nhà ở,

đ) Tặng cho nhà ở;

e) Thừa kế nhà ở;

Continue reading

BÌNH LUẬN CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC, Công ty Luật BASICO, Phó Tổng Giám đốc Maritime Bank

Chế định hợp đồng dân sự đã được quy định tại 250 điều trong tổng số 777 điều luật (từ điều 388 đến 593 và từ điều 693 đến 732), chiếm gần 1/3 số điều trong Bộ luật Dân sự. Điều này đã khẳng định chế định này có một vị trí rất quan trọng trong Bộ luật Dân sự nói riêng và hệ thống pháp luật về dân sự nói chung.

1. Về các loại hợp đồng:

1.1. Các điều từ 428 đến 593 của Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định 13 loại hợp đồng dân sự thông dụng bao gồm:

– Hợp đồng bảo hiểm;

– Hợp đồng gia công;

– Hợp đồng gửi giữ tài sản;

– Hợp đồng mua bán tài sản, trong đó có:

+ Hợp đồng mua bán tài sản nói chung;

+ Hợp đồng mua bán nhà ở;

+ Hợp đồng bán đấu giá.

– Hợp đồng mượn tài sản;

– Hợp đồng dịch vụ;

– Hợp đồng tặng cho tài sản;

– Hợp đồng thuê tài sản, trong đó có:

+ Hợp đồng thuê nhà ở;

+ Hợp đồng thuê nhà khác;

+ Hợp đồng thuê tài sản khác;

+ Hợp đồng thuê khoán tài sản.

– Hợp đồng trao đổi tài sản;

– Hợp đồng vay tài sản, trong đó có họ, hụi, biêu, phường;

– Hợp đồng vận chuyển, trong đó có:

+ Hợp đồng vận chuyển hành khách;

+ Hợp đồng vận chuyển tài sản;

– Hợp đồng uỷ quyền;

– Hứa thưởng và thi có giải.

– Ngoài ra, còn loại Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất được quy định tại một phần riêng của Bộ luật Dân sự.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 16/2012/TT-NHNN NGÀY 25 THÁNG 5 NĂM 2012 CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HƯỚNG DẪN MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 24/2012/NĐ-CP NGÀY 03 THÁNG 4 NĂM 2012 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀNG

Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010;

Căn cứ Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010;

Căn cứ Nghị định số 96/2008/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;

Căn cứ Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng;

Xét đề nghị của Vụ trưởng Vụ Quản lý Ngoại hối;

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư hướng dẫn một số điều của Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng,

MỤC 1. QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này hướng dẫn về hoạt động sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ; hoạt động kinh doanh mua, bán vàng miếng và hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng theo quy định tại Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng (sau đây gọi là Nghị định số 24/2012/NĐ-CP).

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Thông tư này áp dụng đối với doanh nghiệp, tổ chức tín dụng có hoạt động kinh doanh vàng trên lãnh thổ Việt Nam và các tổ chức, cá nhân có liên quan.

MỤC 2. ĐIỀU KIỆN CẤP GIẤY PHÉP XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU VÀNG NGUYÊN LIỆU

Điều 3. Điều kiện cấp Giấy phép nhập khẩu vàng nguyên liệu đối với doanh nghiệp hoạt động sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ

Continue reading

BÌNH LUẬN CHẾ ĐỊNH GIAO DỊCH BẢO ĐẢM TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Phó Tổng Giám đốc Maritime Bank

Nhiều vấn đề trong chế định giao dịch bảo đảm của Bộ luật Dân sự năm 2005 cần được xem xét sửa đổi, bổ sung khi ban hành Bộ luật Dân sự mới. Dưới đây là một số ý kiến tổng hợp những vấn đề từ góc độ thực tế và trên cơ sở một loạt bài viết dưới đây của tôi trong 14 năm qua:

“Xây dựng các quy định riêng của ngân hàng về thế chấp, cầm cố và bảo lãnh” – Tạp chí Thị trường – Tài chính – Tiền tệ số 6/1997;

“Một số vướng mắc pháp lý trong các quy định về bảo đảm tiền vay” – Tạp chí Ngân hàng số 12/1998;

“Một số vấn đề pháp lý cần xem xét trong các quy định về giao dịch bảo đảm và bảo đảm tiền vay” – Tạp chí Ngân hàng số 3/2000;

“Vấn đề bảo đảm tiền vay trong nghiệp vụ cho vay đối với cán bộ công nhân viên” – Tạp chí Ngân hàng số 4/2001;

“Một số vấn đề trong Dự thảo Bộ luật Dân sự” – Báo Pháp luật Việt Nam 4 số: 62, 63, 65 và 66, các ngày 14, 15, 17 và 18-3-2005:

“10 vấn đề pháp lý trong việc thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất” – Tạp chí Ngân hàng số 4/2005:

“Những rủi ro từ việc cầm cố thẻ tiết kiệm” – Tạp chí Ngân hàng số 23/12-2008;

“Thế chấp nhà ở tương lai – mập mờ giữa sai và đúng!” – Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số tháng 10/2009 (số chuyên đề Đăng ký giao dịch bảo đảm);

“Những điều không thể về giao dịch bảo đảm” – Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 24 (161)/12-2009 (tham luận Hội thảo sửa đổi phần các quy định về hợp đồng của Bộ luật Dân sự năm 2005 do Bộ Tư pháp tổ chức ngày 28-29/7/2009);

“Đúng sai của uỷ quyền thế chấp: – Tạp chí Thị trường – Tài chính – Tiền tệ số 5 (326) ngày 01-3-2011.

1. Về tên gọi các biện pháp bảo đảm:

1.1. Khoản 1, Điều 318 về “Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự” của Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định có 7 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự bao gồm:

Continue reading

TÁI CẤU TRÚC NGÂN HÀNG – MỘT TRONG BA TRỤ CỘT CỦA QUÁ TRÌNH TÁI CẤU TRÚC NỀN KINH TẾ

HIẾU NGÂN

Đối với bất cứ quốc gia nào, hoạt động ngân hàng (NH) luôn là huyết mạch của nền kinh tế, sự ổn định và lành mạnh của hệ thống ngân hàng giữ vai trò trọng yếu trong việc ổn định và phát triển nền kinh tế đất nước. Ngân hàng huy động tiền nhàn rỗi trong xã hội để đáp ứng vốn cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của xã hội. Vì vậy, để đảm bảo ổn định và lành mạnh hệ thống ngân hàng thì hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của xã hội (trong đó có chi tiêu của Chính phủ và tiêu dùng của cá nhân và doanh nghiệp) cũng phải được lành mạnh hóa. Người vay tiền sử dụng đồng vốn không hiệu quả, những khó khăn đó cũng sẽ đổ dồn gánh nặng cho ngân hàng. Chính vì vậy, tái cấu trúc ngân hàng đạt hiệu quả phải gắn liền với tái cấu trúc toàn bộ nền kinh tế, trong đó đặc biệt quan tâm tái cấu trúc đầu tư công và tái cấu trúc doanh nghiệp. 

Cuộc khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu gần đây nhất (2007-2009) xuất phát từ việc cho vay “dưới chuẩn” của các NH, đặc biệt là ở Mỹ, buộc các quốc gia phải quan tâm, đánh giá lại toàn bộ hoạt động của các NH. Việc tái cấu trúc NH trở nên phổ biến và cấp thiết ở mỗi quốc gia, đảm bảo cho các NH thích nghi được với nhu cầu phát triển mới trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đầy biến động. Ở Việt Nam, khi mà thị trường chứng khoán chưa phát triển, gánh nặng về vốn còn dồn lên vai NH, thì việc giữ cho hệ thống NH ổn định và lành mạnh càng phải đặc biệt quan tâm.

Có thể nói, nền kinh tế cũng như hệ thống ngân hàng Việt Nam đã cơ bản vượt qua cơn khủng hoảng 2007-2009. Tuy nhiên, trước những biến động phức tạp thời gian gần đây của nền kinh tế thế giới, để ôn định và phát triển nền kinh tế hiệu quả và bền vững, Đảng và Nhà nước ta đã ra Nghị quyết tái cấu trúc nền kinh tế, trong đó tái cấu trúc NH, tái cấu trúc đầu tư công và tái cấu trúc doanh nghiệp Nhà nước là 3 trụ cột trong tiến trình tái cấu trúc nền kinh tế.

Cho đến nay, chúng ta đã có 5 NHTM Nhà nước (mặc dù một số NH đã được Cổ phần nhưng Nhà nước chiếm giữ cổ phần chi phối), 1 NH Chính sách xã hội, 1 nh phát triển, 37 NHTMCP, 48 chi nhánh NH nước ngoài, 5 NH liên doanh, 5 NH 100% vốn nước ngoài, 48 văn phòng đại diện NH nước ngoài, 17 công ty tài chính, 13 công ty cho thuê tài chính, 1 QTDTW với 24 chi nhánh và hơn 1000 QTDND cơ sở. Có thể nói, Việt Nam đã đa dạng hóa hình thức sở hữu và loại hình hoạt động NH, phát triển mạnh mẽ về quy mô, tạo điều kiện cho hệ thống NH huy động vốn trong và ngoài nước để đáp úng vốn cho phát triển nền kinh tế. Năm năm trở lại đây, tốc độ tăng trưởng tín dụng trung bình khoảng 33% năm, so với thế giới thì tốc độ này là cao, nguyên nhân là do thị trường chứng khoán của Việt Nam chưa phát triển, nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng chủ yếu dựa vào NH. Thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 của Chính phủ về những giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, ngành NH phải đảm bảo tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2011 xuống dưới 20%, tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 15-16%; tăng tỷ trọng cho vay nông nghiệp, nông thôn, sản xuất kinh doanh, xuất khẩu; giảm cho vay BĐS, chứng khoán. Từ đó đến nay, ngành NH cơ bản đã thực hiện tốt các yêu cầu của Chính phủ đặt ra; lạm phát đã được kiểm soát. Tuy nhiên, hệ thống NH đã bộc lộ những bất cập cần được tái cơ cấu để đáp ứng yêu cầu phát triển mới.

Continue reading

BIỆN PHÁP NÀO ĐỂ NHÀ NƯỚC SỬ DỤNG ĐƯỢC SỐ VÀNG DỰ TRỮ TRONG DÂN

PHÍ ĐĂNG MINH

Trong 10 năm lại đây ( 2001 – 2010 ), đồng USD liên tục mất giá, là nguyên nhân chính làm giá vàng tăng, song mức tăng giá thực tế của vàng lớn hơn nhiều so với mức mất giá của đồng USD.

Chỉ số đồng USD trước ngày 9/11/2001 là 121,02 điểm, đến tháng 11/2010 là 75,63 điểm, tính chung tỷ giá đồng USD sau 10 năm mất giá 37,5%.

Giá vàng ở mức thấp nhất năm 2001 là 253,55 USD/oz, giá vàng cao nhất vào tháng 12/2010 là 1.430,55 U SD/oz, giá vàng sau 10 năm tăng 464,2%.

Đến ngày 24/3/2011, giá vàng giao ngay trên thị trường châu Á vẫn duy trì ở mức cao 1.437 USD/oz. Các đỉnh cao của giá vàng luôn bị phá, năm 2008 là 900 USD/oz, năm 2009 là 1.000 USD/oz, năm 2010 là 1.400 USD/oz.

Vậy nguyên nhân nào làm cho giá vàng thế giới tăng đột biến:

Đồng USD mất giá làm cho giá vàng thế giới tăng, vấn đề này đều được các nhà nghiên cứu xác nhận. Tuy vậy, xung quanh việc giá vàng tăng mạnh so với tốc độ mất giá của đồng USD còn có nhiều ý kiến khác nhau.

Theo ý kiến của các chuyên gia Hội đồng vàng thế giới, nguyên nhân giá vàng tăng mạnh trong thời gian qua là do nhu cầu vàng của các nước tăng đột biến.

Hiện nay, tổng số vàng vật chất trên toàn thế giới quãng 163.000 tấn. Nhu cầu vàng của các nước trên thế giới năm 2010 lên đến 3.812,2 tấn, có giá trị tương đương 150 tỷ USD, tăng 9% so với năm 2009. Cụ thể nhu cầu vàng cho ngành kim hoàn là 2.060 tấn, tăng 17% so với năm 2009. Nhu cầu vàng cho ngành công nghiệp là 419,6 tấn, tăng 12,4%. Nhu cầu vàng cho đầu tư là 1,333 tấn đạt mức cao thứ hai trong lịch sử, mức cao kỷ lục là 1.360 tấn trong năm 2009. Trong khi đó sản lượng khai thác vàng của thế giới chỉ khoảng 2.600 tấn/năm, thấp hơn nhiều so với nhu cầu vàng. Nhu cầu của các nước tăng mạnh còn do ảnh hưởng của sự phục hồi kinh tế toàn cầu chậm chạp, sức ép lạm phát cao và tình hình chính trị thế giới thiếu ổn định.

Continue reading

TỔ HỢP TÁC TRONG NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN – MỘT PHƯƠNG THỨC MƯU SINH BỀN VỮNG CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN

NINH VĂN HIỆP – Viện CISDOMA

Trong những năm qua, từ khi các HTX kiểu cũ tan rã, loại hình tổ hợp tác (có nơi gọi là các nhóm sở thích) trong nông nghiệp nông thôn ra đời và ngày càng phát triển mạnh mẽ, đa dạng. Tính đến giữa năm 2005, cả nước có gần 100.000 tổ hợp tác, nhóm sở thích trong nông nghiệp, nông thôn. Vậy tổ hợp tác là gì?, và tại sao nói tổ hợp tác là một phương thức mưu sinh bền vững của người nông dân?

I. Khái quát chung vế Tổ hợp tác (nhóm sở thích).

• Theo định nghĩa của FAO (1993) thì “nhóm sở thích (có nơi gọi là tổ hợp tác) trong nông nghiệp nông thôn” là tập hợp những người dân, hộ gia đình, hoặc bộ tộc sống chung trong cộng đồng địa phương, có kiến thức, tâm huyết – say mê các hoạt động về kinh tế xã hội ở cơ sở; tình nguyện tham gia thực hiện vì mục tiêu lợi nhuận và phi lợi nhuận, sẵn sàng làm nòng cốt thúc đẩy các hoạt động đó vì sự tiến bộ an sinh xã hội, hoặc vì nâng cao hiệu quả sản xuất, hoặc vì hợp tác với nhau để tìm phương pháp mưu sinh bền vững bằng cách lồng ghép các hoạt động sản xuất nông nghiệp với các dịch vụ trong nông thôn để, trước mắt đáp ứng nhu cầu thiết yếu của cộng đồng, sau đó nhằm tạo ra sự phát triển bền vững trên quê hương mình. Chúng tôi đồng ý về cơ bản với khái quát của FAO về tổ hợp tác và nhóm sở thích. Có thể nói, tổ hợp tác trong nông nghiệp nông thôn là một hình thức tự nguyện, tự phát đã chứng minh được hướng đi đúng đắn về phương pháp mưu sinh bền vững và rất có ưu thế trong việc cải thiện đời sống kinh tế nông thôn. Tuy nhiên, về một mặt nào đó, tổ hợp tác chưa được các nhà hoạch định chính sách và một số lãnh đạo địa phương thừa nhận.

• Theo số liệu của Cục Hợp tác và Phát triển Nông thôn (Bộ NN&PTNT), tính đến tháng 3 năm 2005, cả nước có 93.648 tổ hợp tác trong nông nghiệp và nông thôn. Nhiều địa phương phát triển khá mạnh như: Thanh Hoá 22.752 tổ; Hưng Yên 1.754 tổ; Quảng Bình 1.172 tổ; Nghệ An 2.000 tổ, Yên Bái 2.500 tổ; đặc biệt ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long tổ hợp tác trở thành hình thức tổ chức kinh tế tập thể chính của vùng, được coi là tổ chức có phương thức mưu sinh bền vững nhất, hiệu quả nhất, năng động nhất. Tuy nhiên, những khẳng định về tổ hợp tác trong nông nghiệp nông thôn tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, chúng ta cần phải bàn lại, nhưng phải nói loại hình tổ hợp tác trong nông nghiệp nông thôn hiện nay có nhiều ưu thế rõ rệt so với loại hình HTX kiểu cũ.

Continue reading

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DÂN SỰ LIÊN QUAN ĐẾN NGƯỜI THỨ BA CHIẾM HỮU KHÔNG CÓ CĂN CỨ PHÁP LUẬT: TÒA BÁC YÊU CẦU ĐÒI LẠI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT LÀ CHƯA HỢP LÝ?

BÙI ĐỨC ĐỘ

Lấy đất cùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) của người cầm cố chuyển nhượng lòng vòng được Tòa nhận định là hợp đồng vô hiệu, nhưng vẫn bác yêu cầu chuộc lại. Vì sao?

Có giấy tờ thuê đất, Tòa án vẫn bác yêu cầu chuộc lại (?)

Bà Thị H là một nông dân Khmer nghèo ở xã Bàn Tân Định, huyện Giồng Riềng, Kiên Giang có 5.500m2 đất ở xã Thạnh Đông A, huyện Tân Hiệp do cha mẹ cho vào năm 1989. Bà H canh tác đến năm 1991 thì cho vợ chồng ông N, bà Q thuê lấy 100 giạ lúa. Vì tin tưởng, hai bên chỉ làm giấy viết tay, giao hẹn đến khi nào có lúa thì sẽ lấy lại đất. Sau khi được UBND huyện Tân Hiệp cấp QSDĐ (năm 1993), bà H giao Giấy chứng nhận QSDĐ cho ông N quản lý. Làm được một thời gian, ông N chuyển nhượng cho ông T lấy 100 giạ lúa và 8 chỉ vàng 24k. Ông T canh tác đến năm 1999 thì chuyển nhượng (cũng bằng giấy tay), đồng thời giao Giấy chứng nhận QSDĐ của bà H cho ông D, bà M với giá 40 chỉ vàng 24k. Khi lo đủ 100 giạ lúa, bà H đến ông N đòi chuộc lại thì mới biết đất của mình đã bị bán lòng vòng qua nhiều chủ như vậy.

Việc tranh chấp hợp đồng cầm cố và hợp đồng chuyển nhượng trên được TAND huyện Tân Hiệp nhận định không có cơ sở cho thuê đất giữa bà H và vợ chồng ông N. Tại phiên tòa, ông N khai rằng đã mua đất này của bà Năm T (mẹ của bà H) từ năm 1993 bằng 100 giạ lúa; giấy tờ cho thuê viết tay bà H chỉ gạch thập, có chữ ký của ông N, nhưng ông N lại không thừa nhận và giấy này cũng không được bà H yêu cầu giám định nên Tòa đã bác yêu cầu của bà H đòi chuộc lại 5.500m2 đất, công nhận quyền sử dụng đất cho ông D, bà M.

Không trả đất vì giao dịch ngay tình

Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử và luật sư bảo vệ cho bà H (do Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh cử) đều có chung nhận định cấp sơ thẩm tuyên bác đơn của bà H, chấp nhận lời khai nại của vợ chồng ông N là không phù hợp. Bởi, mặc dù ông N, bà Q không thừa nhận tờ giấy cho thuê đất, nhưng tại biên bản hòa giải ngày 19.4.2006 của ấp Thạnh Trị, bà Q xác nhận tờ cho thuê đất là đúng sự thật, nhưng do ông N say rượu nên mới ký (bút lục 11). Hơn nữa, ông Danh Tr, Danh R, Danh L là anh em ruột của bà H cũng đều xác định khi cha mẹ còn sống có cho bà H phần đất này để canh tác, đến năm 1991 thì cho vợ, chồng ông N thuê. Mặt khác, ông N, bà Q cũng không xuất trình được giấy tờ bán đất mà ông đã khai mua của mẹ bà H. Như vậy, vợ chồng ông N vẫn biết 5.500m2 đất là của bà H, nhưng lại chuyển nhượng cho ông T.

Continue reading

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ THỪA KẾ: VỤ TRANH CHẤP DI SẢN “1000” TỶ ĐỒNG – TÀI SẢN TÍCH TỤ TỪ BÚN VÀ BẤT ĐỘNG SẢN

PHƯƠNG LOAN

Người con nuôi đương nhiên được thừa kế dù bên chị em người chết cho rằng họ đã góp vốn tạo ra tài sản. Hai bên cùng gửi ở ngân hàng trong khi chờ phán quyết của cơ quan chức năng.

Mấy ngày nay dư luận xôn xao về việc bà TKP chuyên nghề làm bún bị đột tử để lại tài sản trên “1.000 tỉ” đồng. Số tài sản trên hiện đang bị tranh chấp giữa những người anh em ruột của bà và người con nuôi. Vấn đề là số tài sản quá lớn làm ngay chính những người thân cũng ngỡ ngàng. Chúng tôi đã liên hệ với các bên có liên quan để tìm hiểu thông tin.

Một trong hai chị em của bà P. ở VN là ông TVPh. đã cho biết bà P. là chị thứ năm trong gia đình 10 anh chị em. Bà P. sống cùng hai người chị em, bảy người khác định cư ở Đức từ những năm 1980. Cha mẹ họ là người Hoa, chuyên làm bún gạo. Anh chị em đa số theo nghề cha mẹ. Bà P. sống rất kín tiếng, giản dị, ăn chay trường, hay giúp đỡ hàng xóm, người nghèo.

Giàu nhờ bán bún và bất động sản?

Nghề bún cần nhiều sân phơi. Nhiều lần các anh em ở Đức chuyển tiền về để bà P. mua đất làm sân phơi bún. Ngoài việc tận dụng làm ăn, xem như là của để dành khi về già cho anh em đoàn tụ. Theo ông Ph., từ nguồn vốn tự tạo lập và nguồn tiền chị em đóng góp, bà P. đã kinh doanh bất động sản. Do tích tiểu thành đại, khối bất động sản bà tậu được khá nhiều. “Sống gần mộ phần cha mẹ, về quê hương xứ sở khi già là mong ước của mấy anh chị em tôi. Đi đi về về mang tiền về cho chị đầu tư, không gửi qua ngân hàng. Mấy chục năm sống hòa thuận, chị em yêu thương nhau, giờ nảy sinh tranh chấp, tụi tôi rất buồn” – ông Ph. nói. Ông Ph. cũng đưa ra một số giấy tờ được cho là những chứng từ việc chuyển tiền cho bà P. trước đây.

“Năm 1987 mẹ tôi mất, chị tôi 41 tuổi vẫn chưa có chồng con và có ý định xin con nuôi. Lúc này gia đình cũng đã có nhiều cháu nhưng chị tôi nói nuôi cháu, mốt lớn nó cũng về với mẹ nó. Thôi thì con lạc loài mới là con mình. Từ đó, chị xin một em bé cha mẹ bỏ rơi trong BV Hùng Vương” – ông Ph. kể tiếp.

Continue reading