admin@phapluatdansu.edu.vn

MỘT SỐ VẤN ĐỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP

PHAN THỊ THĄNH DƯƠNG –  Khoa Luật Thương Mại, trường ĐH Luật TPHCM

Khi ban hành hai luật thuế Giá trị gia tăng (GTGT) và Thu nhập doanh nghiệp (TNDN), Bộ chính trị đã có chỉ thị số 44 CT/TW ngày 04/11/1998 về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong việc thực hiện các luật thuế mới trong đó có xác định 3 yêu cầu: đảm bảo công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của các doanh nghiệp, các hộ kinh doanh trong nền kinh tế; bảo đảm không ảnh hưởng lớn đến kế hoạch thu ngân sách Trung ương trong năm đầu thực hiện; đảm bảo ổn định thị trường trong nước, tránh gây ra những biến động về giá cả. Cho đến nay Luật thuế TNDN đã đi vào cuộc sống hơn bốn năm, bước đầu đã cho thấy những kết quả như sau:

– Thuế TNDN góp phần kích thích tăng trưởng, phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh: Nhờ vào các quy định của pháp luật thuế TNDN trong việc khuyến khích đầu tư, các cơ sở sản xuất mới thành lập được miễn thuế hai năm đầu, được giảm 50% hai năm tiếp theo hoặc nếu đầu tư vào những lĩnh vực, ngành nghề, vùng kinh tế được ưu đãi đầu tư sẽ hưởng mức thuế suất thấp hơn các dự án khác. Thời gian được miễn giảm cao nhất là 13 năm (4 năm miễn, 9 năm giảm). Ngoài ra còn khuyến khích miễn, giảm thuế đối với các trường hợp đầu tư dây chuyền sản xuất mới mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ, cải thiện môi trường sinh thái, nâng cao năng lực sản xuất, di chuyển cơ sở kinh doanh, khuyến khích đối với doanh nghiệp xuất khẩu.

– Thuế TNDN góp phần tăng cường mở rộng quy mô vốn của doanh nghiệp: Viẹc sửa đổi phương pháp tính thuế TNDN bổ sung lần thứ hai đối với các doanh nghiệp có mức thu nhập cao theo hướng tăng phần tích lũy để lại cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp phát huy năng lực, mở rộng quy mô vốn.

– Thuế TNDN góp phần bình ổn thị trường giá cả: Với cơ chế điều chỉnh của mình thuế TNDN không điều chỉnh qua giá mà điều chỉnh sau khi có thu nhập, vì vậy dù có nhiều quy định ưu đãi, miễn giảm thuế cũng không gây ảnh hưởng đến cơ chế giá của thị trường, đảm bảo không có sự biến động hàng hóa thiết yếu trên thị trường, gia tăng lưu thông hàng hóa, hỗ trợ cho những địa bàn kinh tế khó khăn .

– Thuế TNDN là nguồn thu quan trọng cho Ngân sách nhà nước: Trong 3 năm nguồn thu từ thuế TNDN chiếm trung bình từ 30%-33% tổng thu từ thuế, hơn 20% tổng thu ngân sách nhà nước. Mặc dù có nhiều trường hợp được miễn giảm, ưu đãi nhưng không vì thế mà số thu giảm sút. Điều đó cho thấy thuế TNDN phần nào có tác dụng kích thích sản xuất, tăng sản lượng lao động và sản phẩm tạo ra có nhiều giá trị cho xã hội. Năm 2002 số thu thuế TNDN có giảm nhẹ so với cùng kỳ vì có sự thay đổi của Thông tư 18/BTC/2002, NĐ 26/CP/2002 về giảm mật độ điều tiết thuế TNDN bổ sung.

– Thực hiện thuế TNDN với đảm bảo công bằng xã hội và hoàn thiện chế độ hóa đơn chứng từ: Để từng bước thực hiện chính sách công bằng về thuế, chúng ta thay thế thuế lợi tức với 3 mức thuế suất áp dụng phân biệt đối với từng ngành hàng bằng thuế TNDN với một mức thuế suất đòi hỏi các doanh nghiệp phấn đấu xắp xếp lại sản xuất, đổi mới trang thiết bị, nâng cao trình độ quản lý để thực hiện các mức thuế mới. Việc kê khai và tính đúng thuế TNDN trên nguyên tắc phải có hóa đơn chứng từ đầy đủ để xác định chi phí được khấu trừ. Từ đó thúc đẩy các doanh nghiệp, đối tượng nộp thuế chú trọng tốt hơn công tác mở sổ sách kế toán, ghi chép, quản lý và sử dụng hóa đơn chứng từ. Trong năm 1999 số lượng doanh nghiệp sử dụng hóa đơn tăng gấp đôi so với năm 1998. Năm 2002 số lượng này tăng gấp rưỡi năm 1999. Con số này ngày càng tăng khi số đơn vị đăng ký sử dụng hóa đơn chứng từ ngày càng cao. Việc sử dụng hóa đơn thể hiện một bước chuyển biến mới trong việc sử dụng hóa đơn và quản lý doanh nghiệp.

Bên cạnh những thành quả đạt được, pháp luật thuế TNDN trong thời gian qua đã bộc lộ những vấn đề cần được xem xét hoàn thiện:

1. Về tên gọi của sắc thuế:

Nếu chiếu theo tên gọi là thuế thu nhập doanh nghiệp, thì thuế này chỉ đánh vào thu nhập của những chủ thể là: “doanh nghiệp”; trong khi thực chất phạm vi điều chỉnh của sắc thuế này lại rộng hơn: đó là điều chỉnh đối với tất cả các chủ thể kinh doanh. Nói cách khác yếu tố kinh doanh quyết định và chi phối nghĩa vụ thuế thu nhập của một chủ thể. Mặc dù đây không phải là vấn đề mang tính bản chất, nhưng thiết nghĩ để hoàn thiện một cách đồng bộ pháp luật thuế TNDN, nên chăng định danh sắc thuế này là: thuế thu nhập kinh doanh nếu như chúng ta vẫn giữ nguyên phạm vi điều chỉnh của thuế TNDN như hiện nay.

2. Về phạm vi điều chỉnh của thuế TNDN:

2.1. Xác định đối tượng nộp thuế:

Một chủ thể tham gia vào quan hệ thuế TNDN với tư cách là đối tượng nộp thuế khi họ tiến hành một hoặc nhiều hoạt động kinh doanh. Vì thế việc quy định đối tượng nộp thuế theo cách liệt kê như hiện nay là không cần thiết vì làm mất đi tính linh hoạt của một sắc thuế, đặc biệt là trong trường hợp xuất hiện những loại hình kinh doanh mới. Khi có sự thay đổi về loại hình kinh doanh có thể dẫn đến bất cập trong quy định pháp luật thuế TNDN. Điều quan trọng pháp luật thuế TNDN phải ghi nhận và chỉ rõ thế nào là hoạt động sản xuất, kinh doanh để làm tiêu chí xác định đối tượng nộp thuế. Chúng ta có thể tham khảo Luật thuế công ty của Anh quy định “thuế thu nhập công ty áp dụng đối với các chủ thể có hoạt động sản xuất, kinh doanh và loại trừ những đối tượng không nộp thuế này bao gồm công ty và thành viên công ty hợp danh (partnership), các tổ chức chính quyền điạ phương”. Với cách quy định như vậy sẽ tạo điều kiện mở rộng đối tượng thu, là xu hướng đổi mới hệ thống thuế hiện nay.

Đối với trường hợp hộ sản xuất nông nghiệp có thu nhập trên 36 triệu đồng/năm, tổng giá trị sản lượng trên 90 triệu đồng/năm được coi là có mức sản xuất hàng hóa lớn, có thu nhập cao. Việc định mức thu nhập 36 triệu đồng/năm như vậy là quá thấp. Với số thu nhập đó, bình quân thu nhập tháng của họ chỉ vào khoảng 3 triệu đồng nhưng vẫn phải trang trải rất nhiều phí sinh hoạt cho cả hộ gia đình của mình. Quy định này chủ yếu nhắm vào hoạt động trang trại đang cần kích thích và nhân rộng. Thuế suất đánh vào thu nhập của đối tượng này cũng bị xem là cao vì thực chất họ sẽ bị đánh 32% trên tổng thu nhập. Vì vậy việc xác định mức thu nhập sẽ là cơ sở làm phát sinh nghĩa vụ thuế TNDN của họ. Khắc phục tình trạng này, Nghị định 26/CP và Thông tư 18/BTC đã đưa đối tượng này vào nhóm đối tượng tạm thời chưa nộp thuế. Quy định này chỉ mang tính chất tình huống. Về lâu dài hoạt động trang trại thực chất là hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp. Vì thế không nên đưa quy định tạm thời không chịu thuế đối với hộ gia đình nông dân sản xuất nông nghiệp có thu nhập cao theo quy định hiện hành. Việc thu thuế đối với đối tượng này sẽ đảm bảo bình đẳng với các nông trường, trạm trại và các hộ kinh doanh công thương nghiệp. Tuy nhiên đối với đối tượng này nên chăng xem xét lại định mức “sản xuất hàng hóa lớn, thu nhập cao” để điều tiết thu nhập một cách hiệu quả nhất. Bởi vì suy cho cùng hoạt động sản xuất của những chủ thể này một phần mang tính kinh doanh nhưng phần khác phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của các thành viên trong hộ .

Mặt khác, việc phân biệt 2 đối tượng nộp thuế là cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh và cá nhân có thu nhập chiụ thuế thu nhập cá nhân trong một số trường hợp gặp khó khăn và gây bất bình đẳng giữa hai chủ thể đều là cá nhân có cùng mức thu nhập nhưng chịu điều tiết bởi 2 mức thuế suất khác nhau. Thu nhập trong hai trường hợp đều phục vụ cho những nhu cầu của cá nhân: tiêu dùng, sinh hoạt…. Do đó nếu có cùng thu nhập 3.000.000đ/tháng thì cá nhân không nộp thuế thu nhập, nhưng cá nhân kinh doanh phải nộp thuế 32% mất khoảng 1/3 thu nhập của mình. Khi thu nhập cá nhân ở mức cao nhất định thì bị điều tiết thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao lại nặng hơn so với thuế thu nhập doanh nghiệp. Ngoài ra, cũng rất khó xác định cá nhân có thu nhập từ chuyển giao công nghệ, phát minh sáng chế là đối tượng nộp thuế TNDN hay nộp thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao vì hai sắc thuế này đều cùng xác định thu nhập trên thuộc phạm vi điều chỉnh của mình. Như vậy, cùng là cá nhân có thu nhập như nhau nhưng đóng góp cho nhà nước là khác nhau. Cho nên để đảm bảo sự bình đẳng trong nghĩa vụ thuế nên loại chủ thể là cá nhân ra khỏi đối tượng chịu thuế TNDN mà họ phải là đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân.

Đối với thành viên công ty hợp doanh thì họ là đối tượng nộp thuế TNDN hay là đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân? Thực tế hiện nay việc hạch toán mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty hợp doanh ở Việt Nam được thực hiện như các loại hình công ty khác. Do đó thành viên hợp doanh sẽ được phân chia lợi nhuận từ công ty hợp doanh là thu nhập sau thuế. Thu nhập này không thể bị điều tiết một lần nữa bằng thuế TNDN hay thuế Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao. Hoạt động của thành viên công ty hợp doanh phục vụ cho công ty mang lại lợi nhuận không thể tách ra là thu nhập của cá nhân hành nghề độc lập. Đây cũng là vấn đề không chỉ cần được xem xét về mặt lý luận mà còn ở góc độ thực tiễn áp dụng trong điều kiện Việt Nam hiện nay.

2.2. Về thu nhập chịu thuế:

Để xác định thu nhập chịu thuế chúng ta căn cứ vào 2 yếu tố là doanh thu và chi phí. Tuy nhiên hai yếu tố này cũng thường biến động và phụ thuộc vào quá trình sản xuất, kinh doanh của đơn vị. Do vậy, ở góc độ kế toán thuế và kế toán kinh doanh có sự khác biệt. Đối với kế toán kinh doanh thì tất cả chi phí và số thu đều phải kết sổ để tính thực lãi của đơn vị, có sự chênh lệch về thời điểm xác định doanh thu so với thực tế. Một số chi phí không phù hợp với quy định của pháp luật thuế TNDN cũng không được thừa nhận để khấu trừ. Vì thế trên thực tế nảy sinh một số vướng mắc liên quan :

* Xác định doanh thu tính thuế:

Thời điểm xác định tính thu nhập chịu thuế là thời điểm hàng hóa dịch vụ đã tiêu thụ, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền. Như vậy giữa xác định doanh thu tính thuế GTGT và tính thu nhập chịu thuế có lúc không trùng hợp, nhất là vào thời điểm cuối năm tài chính. Đặc biệt là đối với những trường hợp đã tính thuế hàng hóa nhưng việc thanh toán trả chậm hoặc đã ra hóa đơn nhưng chưa được tiêu thụ (VD: thời điểm bán vé máy bay xác định GTGT nhưng chỉ khi thực tế có vận chuyển thì lúc đó dịch vụ mới được tiến hành). Như vậy việc xác định thời điểm phát sinh doanh thu như thế nào là phù hợp? NĐ26/CP và TT18/BTC có ghi nhận thêm trường hợp cho thuê tài sản, vay vốn trả tiền một lần thì cho phép phân chia doanh thu theo từng kỳ. Nhưng trường hợp thanh toán trả chậm hoặc trả sau vẫn phải hoạch toán tính thuế một lần tại thời điểm chuyển giao. Theo chúng tôi, quy định này nhằm tránh tình trạng thanh toán ngầm không chịu thuế, rất khó kiểm soát nếu chỉ dựa vào thời điểm thanh toán để xác định doanh thu. Tuy nhiên ở góc độ quyền lợi của những đơn vị kinh doanh chân chính thì thời điểm xác định doanh thu chịu thuế là rất quan trọng. Nó quyết định thời điểm chịu trách nhiệm pháp lý khi họ không thực hiện nộp thuế đúng thời hạn quy định cho phần thu nhập mà họ chưa được nhận nhưng có thể đã phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý .

Đối với nghĩa vụ thuế TNDN thì tất cả doanh thu bán hàng đều phải được kê khai tính thuế bất kể nó có hóa đơn chứng từ và có hợp lý hay không. Ở góc độ này thường có sự tranh chấp giữa cơ quan thuế và đối tượng nộp thuế. Cơ quan quản lý thu không khỏi gặp khó khăn để có thể quản lý được cả những giao dịch mà đối tượng nộp thuế đã tiến hành nhưng không phản ánh vào sổ sách, chứng từ kế toán của đơn vị.

* Vấn đề xác định chi phí:

Căn cứ xác định chi phí là điểm dễ bị lợi dụng để tránh thuế hay ảnh hưởng đến nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp.

Vấn đề chi phí khấu hao tài sản cố định. Đặc biệt trong việc vận dụng phương pháp và thời gian khấu hao. Hiện nay QĐ 166/QĐBTC ngày 30/12/1999 quy định chế độ khấu hao tài sản đã được tháo gỡ một số nội dung. Tuy nhiên quy định này chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác không có căn cứ thực hiện. Một số doanh nghiệp nhập nhằng giữa tài sản dùng trong kinh doanh và tài sản dùng trong sinh hoạt để trích khấu hao tài sản làm giảm thu nhập chịu thuế. Việc định giá thường theo giá cao để có lợi khi khấu hao. Một số tài sản phải định giá lại nên cần lập hội đồng định giá. Nhưng pháp luật không quy định rõ hội đồng định giá được thành lập như thế nào và cơ sở định giá ra sao?

Với nguyên vật liệu sử dụng vào hoạt động sản xuất, kinh doanh liên quan đến doanh thu và thu nhập chịu thuế trong kỳ được tính theo định mức tiêu hao vật tư hợp lý và giá thực tế xuất kho. Định mức này do giám đốc doanh nghiệp xây dựng dựa vào định mức tiêu hao và thực tế doanh nghiệp. Quy định này còn chung chung nên không xác định được mức tiêu hao bao nhiêu là hợp lý? Mức tiêu hao phụ thuộc lớn vào thực tế kinh doanh của doanh nghiệp nên rất khó xây dựng định mức tiêu hao. Vì thế khi quyết toán thuế, cơ quan thuế không có căn cứ để loại chi phí vượt mức mà thường chấp nhận theo giá trị vật tư xuất kho tương ứng với định mức. Trường hợp trong kỳ có số tiêu hao nguyên vật liệu thực tế lớn hơn định mức, nhưng doanh nghiệp cũng không được tính khấu trừ phần giá trị vượt quá định mức tiêu hao nguyên vật liệu.

Chi tiền lương hiện chỉ được quy định mức lương tối thiểu doanh nghiệp phải trả khi sử dụng lao động, chưa có quy định tiền lương bình quân xã hội để xác định chi phí tiền lương hợp lý. Do đó, tiền lương trên hợp đồng lao động làm căn cứ xác định chi phí có thể cao hơn thực tế người lao động có thể nhận được.

Chi phí sửa chữa lớn được quy định khấu trừ nhưng hiện không có tiêu chí phân biệt giữa chi sửa chữa lớn và chi cho hoạt động cải tạo nâng cấp (khoản chi mang tính vốn). Do đó rất dễ bị lợi dụng gây ra sự thay đổi nghĩa vụ thuế. Ngoài ra, cũng chưa có sự phân biệt rõ doanh thu từ hoạt động khác và thu nhập từ hoạt động khác. Quy định tại khoản 2 Điều 7 Luật thuế TNDN về các thu nhập khác có trường hợp là thu nhập nhưng có trường hợp là doanh thu. Như tiền cho thuê tài sản, tiền giải phóng tàu nhanh có được trừ chi phí không và công nhận những chi phí nào được khấu trừ tính thu nhập chịu thuế TNDN.

Như thế khi xác định chi phí được khấu trừ tính thu nhập chịu thuế thì được khấu trừ theo quy định hiện hành dựa trên cơ sở chứng từ và tỷ lệ định mức được khấu trừ. Quy định này đã có lỗ hổng để đối tượng nộp thuế lợi dụng và cán bộ thuế sách nhiễu. Hoàn thiện nội dung pháp luật về xác định chi phí tính thu nhập phải giải quyết được mối quan hệ giữa nội dung kinh tế trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động thu NSNN. Hiện nay nhà nước quản lý các khoản chi bằng hình thức khống chế mức chi. Điều này dễ trở nên chủ quan và mang tính áp đặt, không thể áp dụng linh hoạt giữa các ngành nghề khác nhau (như chi phí tiếp thị, quảng cáo). Nếu quy định chi tiết thì gây phức tạp, không tránh khỏi bất hợp lý. Thiết nghĩ, thay vì đưa ra mức khống chế chúng ta nên đưa ra nguyên tắc nhất định phù hợp với mỗi loại chi phí. Bất kỳ chủ thể kinh doanh nào cũng muốn tìm lợi nhuận, muốn đánh giá được hiệu quả kinh doanh thì phải phản ánh trung thực trên báo cáo tài chính. Như vậy muốn biết khoản chi của doanh nghiệp có là hiện thực hay không có thể căn cứ vào sổ sách, chứng từ kế toán. Để làm được điều này trong thời điểm hiện nay, nên:

+ Tăng mức độ xử phạt để đủ sức răn đe đối với hành vi vi phạm về thuế.

+ Tăng cường quản lý số tiền mua bán được thanh toán thông qua hệ thống ngân hàng. Muốn vậy phải có cơ chế khuyến khích, ràng buộc các chủ thể mở và thanh toán qua ngân hàng (mới được quyết toán thuế, hoàn thuế, nhận tiền…).

+ Áp dụng thống nhất phương pháp tính thuế, tiến tới không còn hình thức khoán thuế để tránh trường hợp một số hóa đơn chứng từ của chủ thể kinh doanh áp dụng hình thức khoán thuế không cần sử dụng và sẽ chuyển cho đối tượng nộp thuế theo phương pháp thông thường dùng để kê khai chi phí.

+ Cần có cơ chế khuyến khích người mua hàng là người tiêu dùng nhận hóa đơn mua hàng. Có ý kiến nên mở số trúng thưởng trên số seri của tờ hóa đơn. Đây có thể xem là một cách khuyến khích nhưng không giải quyết được căn nguyên của vấn đề. Các quy định nghĩa vụ thuế phải có cơ chế tác động tiêu cực đến lợi ích vật chất của người tiêu dùng nếu họ không lấy hóa dơn mua hàng. Có như thế người tiêu dùng mới nhận thức được sự cần thiết của việc tập hợp hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ. Ở các nước phát triển, hóa đơn chứng từ là cơ sở tính chi phí sinh hoạt, tiêu dùng được chước giảm khi tính thuế thu nhập cá nhân. Hoàn thiện pháp luật thuế TNDN trên cơ sở đồng bộ, vậy nên xem xét đưa quy định này vào nội dung của luật thuế Thu nhập đối với người có thu nhập cao.

+ Cần nghiên cứu đưa thêm một số khoản lỗ và chi phí vào danh mục chi phí được khấu trừ để bảo vệ quyền lợi của các chủ thể nộp thuế: như chi phí thu tiền phạt, chi phí mua bán chứng khoán, chi phí cho hoạt động liên doanh, chi phí mua bán ngoại tệ, lỗ do chuyển nhượng tài sản cố định.…

3. Vấn đề thuế suất:

Nhiều ý kiến cho là mức thuế suất thông thường ta đang áp dụng là khá cao, làm giảm khả năng tích lũy để đầu tư đổi mới công nghệ, bắt kịp trình độ sản xuất của các nước trong khu vực, đặc biệt là đối với doanh nghiệp trước đây áp dụng thuế suất thuế lợi tức thấp hơn. Ngoài ra, thuế suất cao còn làm giảm lợi thế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài. Mặt khác so với các nước trong khu vực thuế suất thuế TNDN của họ thấp hơn so với Việt Nam, một số còn bãi bỏ thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài. Các doanh nghiệp trong nước lại phải đối diện với cuộc cạnh tranh gay gắt. Trong khi đó không ít các chi phí đầu vào hiện nay tăng giá. Theo thống kê chi phí đầu vào bình quân tăng 32,43% từ năm 1996 đến nay trong khi giá đầu ra chỉ tăng 22% làm cho tỉ suất lợi nhuận bình quân của doanh nghiệp giảm từ 16,8% năm 1996 xuống còn 6,2% năm 2000 thấp hơn 2 lần so với các nước trong khu vực. Với thực tế đó thì thuế suất thuế TNDN hiện nay sẽ trở thành gánh nặng cho các doanh nghiệp, làm cho họ không có khả năng nộp thuế, xu hướng nợ thuế và chậm nộp thuế tăng cao, nghiêm trọng hơn là tìm cách trốn thuế, tránh thuế. Theo Cục thuế TPHCM, số đơn vị kê khai không có lãi ngày càng gia tăng trong sáu tháng đầu năm vừa qua.

Mặt khác, do tồn tại quá nhiều mức thuế suất ưu đãi (6 mức thuế suất ưu đãi) phân biệt cho 2 nhóm chủ thể khác nhau mặc dù đã được quy định tương đối chi tiết điều kiện áp dụng nhưng cũng gây ra những khó khăn nhất định. Thuế TNDN ra đời với tiêu chí đơn giản, dễ hiểu, dễ áp dụng với 2 mức thuế suất cơ bản thay thế một thuế lợi tức 4 mức thuế suất; nhưng thực chất lại có tới 8 mức thuế suất khác nhau. Do vậy, với một đơn vị có hoạt động đan xen giữa những ngành nghề, lĩnh vực… có mức độ thuế suất khác nhau thì việc hoạch toán riêng từng ngành là điều không dễ thực hiện. Điều này làm mất tác dụng ưu đãi của hệ thống thuế suất.

Việc quy định khác nhau về thuế suất giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn nước ngoài là sự bất bình đẳng. Thực tế cho thấy số thu thuế TNDN từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là rất thấp, trong khi đó các thành phần kinh tế khác giữ vai trò chủ yếu trong đóng góp ngân sách nhà nước lại không được quan tâm. Vậy việc thuế TNDN khuyến khích đầu tư nước ngoài cũng cần phải xem xét lại và không nhất thiết phải quy định quá thoáng như hiện nay. Theo nhiều nhà đầu tư nước ngoài, điều họ quan tâm hơn mức thuế suất thuế TNDN là môi trường đầu tư thuận lợi (cơ sở hạ tầng, điều kiện làm việc, cơ chế pháp lý, bộ máy chính quyền…). Có cạnh tranh bình đẳng thì môi trường đầu tư mới thông thoáng và không có tình trạng sách nhiễu, lợi dụng để gây khó dễ cho nhà đầu tư.

Riêng thuế suất thuế TNDN bổ sung chỉ áp dụng với doanh nghiệp trong nước, không áp dụng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một sự bất bình đẳng. Thiết nghĩ áp dụng thuế suất bổ sung như hiện nay nếu chỉ dựa vào tỉ suất lợi nhuận so với vốn thì không phản ánh đúng mục đích điều tiết thêm của thuế suất bổ sung là điều tiết đối với doanh nghiệp do có lợi thế khách quan (ngành hàng ít bị cạnh tranh, địa điểm kinh doanh thuận lợi) nhưng tiêu chí xác định lợi thế khách quan không rõ ràng, khó xác định, trừu tượng vì vậy mục tiêu của thuế suất bổ sung hiện nay là không đạt được, làm triệt tiêu ý muốn sản xuất, kinh doanh tạo nhiều thu nhập. Ở góc độ so sánh thì cùng điều kiện và vốn như nhau, nhưng có doanh nghiệp tạo ra nhiều lợi nhuận hơn lại bị điều tiết nhiều hơn là không hợp lý. Phần thu nhập thay vì tái đầu tư mở rộng lại bị nhà nước điều tiết. Trên thực tế để lách quy định này, khi đến thời điểm quyết toán thuế, một số đơn vị tìm cách nâng vốn thuộc chủ sở hữu để tránh thuế TNDN bổ sung. Vì thế, có thể bỏ thuế TNDN bổ sung hoặc nếu vẫn duy trì thì nên tiến đến áp dụng thuế suất bổ sung đối với tất cả các đối tượng nộp thuế, không có sự phân biệt về loại hình kinh doanh. Khi vận dụng thì cần có quy định về căn cứ đánh giá lợi thế khách quan mang lại lợi nhuận cao làm cơ sở điều tiết thuế TNDN bổ sung và quy định về thẩm quyền xác định căn cứ này. Điều này góp phần tạo môi trường pháp lý đảm bảo cạnh tranh bình đẳng và chống độc quyền.

Vấn đề đặt ra là, nếu như lấy nguồn lực trong nước làm tiền đề phát triển, vậy tại sao chúng ta không dành chính sách ưu đãi cho đơn vị ngoài quốc doanh với tiềm năng phát triển của mình sẽ trở thành trụ cột trong việc phát triển kinh tế. Nghị quyết Hội nghị TW 5 khóa IX cũng nhấn mạnh “phát triển mạnh kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN, góp phần quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế”. Do đó, ta không nên có sự phân biệt đối xử về mức thuế suất giữa 2 nhóm chủ thể như hiện nay. Các nước trong khu vực Đông Nam Á như Singapore, Malaysia, Indonesia và ngay cả Trung Quốc cũng đã tiến đến bỏ thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài và áp dụng thuế suất thống nhất. Thuế suất chung thống nhất là tiền đề cho việc không phân biệt đối xử giữa các loại hình kinh doanh như hiện nay. Tiếp theo là hạ mức thuế suất để thu được nhiều hơn, phù hợp với xu thế thế giới và tương tự như các nước trong khu vực. Hiện nay Singapore áp dụng thuế suất thuế TNDN là 26%, Myanma 30%, Thái Lan 25%, Malaysia 26%. Mức thuế suất phải phù hợp đảm bảo lợi ích của đối tượng nộp thuế và mục tiêu điều tiết của nhà nước. Tức là mức thuế suất phải đảm bảo tỉ lệ đóng góp hợp lý sao cho lợi nhuận sau thuế của đối tượng nộp thuế còn lại đủ để doanh nghiệp có thể tái đầu tư , mở rộng sản xuất, tích lũy tăng đầu tư chiều sâu, cải thiện đời sống và tăng phúc lợi cho người lao động. Mức thuế suất chung 28% hiện nay đang được quan tâm xem xét. Nếu mức thuế suất này được áp dụng chung phổ biến thì sẽ làm giảm thu NSNN 2.700 tỷ đồng/năm, nhưng nó lại có khả năng thu hút đầu tư nước ngoài mà vẫn bảo đảm bình đẳng đối với doanh nghiệp trong nước. Nếu như kết hợp đồng thời với việc bỏ thuế suất ưu đãi và giới hạn chế độ miễn giảm thì việc giải quyết vấn đề giảm thu NSNN là có thể thực hiện được. Tuy nhiên ở đây chúng tôi không đề nghị một mức thuế suất cụ thể vì thiết nghĩ điều đó cần có sự nghiên cứu kỹ về mức độ tác động của thuế suất lên toàn diện đời sống kinh tế – xã hội.

Như thế, chúng ta cũng chỉ nên giữ một mức thuế suất cơ bản, chuyển các mức thuế suất ưu đãi thành chế độ miễn giảm thuế. Bản chất của thuế suất ưu đãi là giảm thuế suất. Giảm thuế suất là giảm mức độ điều tiết của nhà nước đối với đối tượng chịu thuế. Mức độ ưu đãi đã xác định nên không đồng nghĩa với giảm thu NSNN. Thuế TNDN của chúng ta hiện nay không có sự khác biệt giữa chế độ miễn giảm và giảm thuế suất: đều có mục đích khuyến khích, động viên, hỗ trợ. Cho nên, nếu chỉ là khuyến khích, hỗ trợ thì nên chăng chỉ cần dùng chế độ miễn giảm với tỉ lệ miễn giảm, thời gian miễn giảm, và điều kiện miễn giảm hợp lý.

4. Về việc thực hiện chế độ miễn giảm thuế TNDN:

Vấn đề quy định miễn giảm đối với đơn vị mới thành lập đã bị một số chủ thể kinh doanh lợi dụng. Khi thời hạn hưởng chế độ miễn giảm thuế kết thúc họ chuyển sang kê khai không có lãi hoặc thành lập doanh nghiệp mới. Các văn bản hướng dẫn thuế TNDN mặc dù có quy định không áp dụng miễn giảm thuế đối với các cơ sở sát nhập, chia tách chuyển đổi hình thức hoạt động nhưng vẫn bị lách bằng hình thức thành lập mới .

Thuế TNDN có nhiều quy định khuyến khích, hỗ trợ thông qua chế độ miễn giảm, nhưng đồng thời cũng dùng biện pháp giảm thuế suất để ưu đãi đầu tư. Điều đó dẫn đến tình trạng phức tạp, chồng lấn giữa chế độ miễn giảm và chế độ ưu đãi bằng thuế suất. Quy định như vậy vừa gây khó khăn cho việc áp dụng vừa làm giảm hiệu quả thu ngân sách. Ngoài ra ưu đãi và miễn, giảm thuế TNDN được quy định trong nhiều văn bản như luật khuyến khích đầu tư trong nước, luật đầu tư nước ngoài và các văn bản hướng dẫn nên có sự trùng lắp và không nhất quán trong việc thực hiện chính sách điều tiết.

Nên chăng thống nhất chế độ miễn giảm thuế bằng cách chỉ quy định chế độ miễn giảm trong luật thuế TNDN. Ở các luật chuyên ngành khác như luật đầu tư nước ngoài, luật khuyến khích đầu tư trong nước chỉ nên ghi nguyên tắc ưu đãi, hoặc chỉ đơn giản là danh mục các ngành nghề cần ưu đãi khuyến khích. Bỏ quan điểm như lâu nay là nếu đầu tư bị giảm sút, hoặc khi ban hành luật chuyên ngành lại có quy định ưu đãi riêng. Điều đó làm mất đi ý nghĩa của chế độ miễn giảm, mục đích điều tiết của thuế TNDN và cào bằng ưu đãi. Do vậy cần rà soát lại văn bản luật thuế TNDN hoặc những luật chuyên ngành liên quan để loại bỏ những nội dung trùng lắp này, đảm bảo sự thống nhất về mặt hình thức và lô gích hơn về mặt nội dung.

Mặt khác, chúng ta cần cân nhắc và chọn lựa nội dung miễn giảm thuế TNDN. Các nước Đông Nam Á (Indonesia, Malaysia, Thái Lan) đã chứng minh rằng việc điều tiết hoạt động đầu tư thông qua chế độ miễn giảm là rất khó khăn và hạn chế, vì thực tế miễn giảm chỉ có ý nghĩa khi có thu nhập. Do đó, miễn giảm là yếu tố hấp dẫn nhưng không phải là yếu tố quyết định đầu tư. Như vậy, thay vì hỗ trợ các doanh nghiệp mới thành lập bằng biện pháp miễn giảm thuế ta nên chuyển sang biện pháp hỗ trợ tài chính khác.

Ngoài ra ta cần có sự phối hợp giữa cơ quan chức năng đặc biệt là cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế trong việc kiểm soát các doanh nghiệp mới thành lập, tránh tình trạng lợi dụng quy định miễn thuế cho doanh nghiệp mới thành lập, hoặc thành lập ở những vùng kinh tế ưu đãi nhưng thực tế mọi hoạt động lại diễn ra trên địa bàn các địa phương khác để trốn tránh thuế .

5. Vấn đề chuyển giá:

Tình trạng thất thu thuế TNDN do chuyển giá ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bằng cách nâng giá đầu vào đối với vật tư nguyên liệu và hạ giá mua sản phẩm xuất khẩu, phân bổ chi phí của công ty mẹ ở Việt Nam. Theo tổng kết 10 năm thực hiện Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì tại TP.HCM số thuế lợi tức thu từ khu vực đầu tư nước ngoài chiếm tỷ lệ thấp là 12,15% so với thành phần kinh tế khác. Đến năm nay tỷ lệ này vẫn không khả quan hơn. Tỷ lệ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khai không có lãi năm 1999 chiếm 73,82% (251/340) và năm 2000 chỉ có 180/426 doanh nghiệp kê khai có lãi (Nguồn: Cục thuế TPHCM).

Quy định về chuyển giá hiện nay mang nặng tính nghiệp vụ với mục đích xác định lại giá mà chưa có quy định cụ thể về điều kiện và trách nhiệm trong việc thực hiện biện pháp này. Không có quy định nào buộc doanh nghiệp thực hiện chuyển giá phải chịu trách nhiệm pháp lý cho hành vi của mình. Biện pháp chuyển giá hiện chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có các đơn vị liên kết. Trong khi đó, doanh nghiệp trong nước cũng thực hiện chuyển giá từ doanh nghiệp đang hoạt động sang doanh nghiệp mới thành lập hoặc đang được hưởng ưu đãi thuế hay ngược lại. Doanh nghiệp đang hoạt động sẽ chấp nhận bán lỗ để chuyển thu nhập sang doanh nghiệp đang hưởng ưu đãi. Như vậy ở những doanh nghiệp này mặc dù có thu nhập nhưng được miễn hay giảm thuế nên tránh được thuế một cách hợp pháp. Chính vì chưa có quy chế xử phạt, xác định trách nhiệm rõ ràng nên việc chuyển giá hiện nay chưa được kiểm soát một cách có hiệu quả. Các biện pháp chống chuyển giá hiện mới chỉ được ghi nhận tại thông tư 13/BTC-8/3/2001. Trong khi đó thực tế chuyển giá còn xảy ra rất đa dạng ở các loại hình kinh doanh khác. Do đó, để thực hiện biện pháp chống chuyển giá có hiệu quả chúng ta cần lưu tâm các vấn đề sau:

– Cần có quy định căn cứ bắt buộc áp dụng biện pháp chống chuyển giá.

– Mở rộng phạm vi áp dụng biện pháp chuyển giá đối với các đơn vị liên kết trong nước mà thực tế hiện nay xảy ra rất nhiều hiện tượng chuyển giá.

– Cần quy định biện pháp xử lý đối với cán bộ thuế chuyên quản nếu bỏ qua hành vi chuyển giá ở các đơn vị mình quản lý và đối với các đơn vị có hành vi chuyển giá. Theo kinh nghiệm của các nước OEDC thì các doanh nghiệp sẽ bị phạt tỷ lệ rất cao trên khoản chênh lệch chuyển giá (khoảng 25%-40%).

***

So với thuế lợi tức, thuế TNDN đang dần phát huy những ưu điểm của mình trong việc mở rộng phạm vi điều chỉnh, một số điểm quy định đối tượng nộp thuế, thuế suất, chế độ miễn giảm. Thực hiện thuế TNDN hiện nay là bước chuyển tiếp từ thuế lợi tức do vậy không thể tránh khỏi thiếu sót và hạn chế. Nhưng thuế TNDN cũng đã làm gia tăng số thu mặc dù so với thuế lợi tức thì thuế TNDN có mức thuế suất thấp hơn. Điều này cho thấy xu hướng giảm thuế suất, mở rộng phạm vi điều chỉnh sẽ là xu hướng hoàn thiện luật thuế thu nhập doanh nghiệp. Chiến lược phát triển kinh tế năm 2001-2010 được nêu trong Văn kiện Đại hội Đảng: “Tạo môi trường pháp lý bình đẳng, thuận lợi cho các doanh nghiệp cạnh tranh, hợp tác để phát triển; tiếp tục cải cách hệ thống thuế phù hợp theo hướng đơn giản, thống nhất, không phân biệt đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài, nuôi dưỡng nguồn thu, hiện đại hóa công tác thu thuế của nhà nước”. Pháp luật thuế nói chung và thuế TNDN nói riêng không thể tách riêng khỏi hệ thống pháp luật và đòi hỏi chủ trương hoàn thiện của Đảng và nhà nước. Vì thế những thay đổi căn bản này sẽ góp phần đưa công cụ thuế nói chung và thuế TNDN nói riêng trở thành công cụ hữu hiệu điều tiết nền kinh tế phù hợp với chiến lược phát triển lâu dài trong thời gian tới ở VN.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 2/2003

SỬA ĐỔI LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 1997: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

PGS.TS. MAI HỒNG QUỲ –   ĐH luật TP.HCM

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Luật thương mại Việt Nam, được Quốc hội thông qua tháng 5/1997, có hiệu lực từ 1/1/1998, đã rất được chờ đón vào thời điểm ban hành. Đạo luật này được đánh giá là một bước tiến quan trọng trong quá trình hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh tế theo hướng thị trường ở Việt Nam. Luật thương mại trong năm năm qua vừa đạt được những thành tựu có ý nghĩa chính trị to lớn, vừa có ý nghĩa thực tiễn pháp lý và thực tiễn kinh doanh rất đáng trân trọng. Có thể nói Luật thương mại đã thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với hoạt động thương mại trong thời kỳ đổi mới, đặt nền móng cần thiết cho pháp luật thương mại Việt Nam, tạo được một hành lang pháp lý thông thoáng cho hoạt động của các thương nhân. Thành tựu đặc biệt của Luật thương mại và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật thương mại là đã tạo cơ sở pháp lý, đẩy mạnh hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của Việt Nam.

Tuy nhiên qua năm năm thực hiện (và có thể nói ngay sau khi được ban hành), Luật thương mại Việt Nam 1997 đã bộc lộ nhiều bất cập và trở thành một đạo luật có hiệu quả áp dụng trong thực tế không cao. Nhiều vấn đề do luật quy định đã trở nên lạc hậu không đáp ứng được trình độ phát triển của kinh tế và xã hội Việt Nam cũng như thực tiễn thương mại quốc tế. Trong bối cảnh khi chúng ta đã ký kết hiệp định thương mại Việt- Mỹ, chuẩn bị gia nhập WTO, thực hiện các cam kết quốc tế và khu vực trong thương mại, sự tương thích của Luật thương mại Việt Nam với các văn bản pháp lý quốc tế cũng cần được tiến hành nhanh chóng.

Vì những lý do trên, việc sửa đổi Luật thương mại 1997 hoặc là việc ban hành một đạo Luật thương mại mới đã trở thành một yêu cầu cấp thiết. Quốc hội cũng đã ra Nghị quyết về việc tiến hành sửa đổi Luật thương mại. Từ góc độ thực tiễn của vấn đề, việc tổng kết đánh giá những hạn chế, vướng mắc của Luật thương mại và các văn bản quy định chi tiết cần được tiến hành nghiêm túc. Nhưng trước tiên, để có thể định hướng đúng đắn cho việc xây dựng một văn bản pháp luật – một đạo luật hoặc một Bộ luật thương mại mới, cần phải xử lý giải quyết cho được một số vấn đề lý luận nền tảng. Đó là những vấn đề sau đây:

1. Nói về những bất cập cụ thể của Luật thương mại 1997 có thể có nhiều ý kiến trái ngược nhau, nhưng dường như nhận định về sự hạn hẹp của đối tượng điều chỉnh của Luật thương mại 1997 là ý kiến chung của tất cả những người quan tâm. Định nghĩa về hoạt động thương mại trong Điều 45 Luật thương mại là một định nghĩa “hẹp”. Nó trái ngược với định nghĩa “rộng” về hoạt động thương mại được cộng đồng kinh doanh và tài chính quốc tế sử dụng. Năm 1985, Ủy ban quốc tế về Luật thương mại quốc tế của Liên hiệp quốc (Uncitral) đã giải thích thuật ngữ “thương mại” theo một nghĩa rộng dường như không có giới hạn. Các Luật mẫu của Uncitral về Trọng tài thương mại quốc tế, về Thương mại điện tử đã đưa ra một khái niệm về thương mại như sau:

Thuật ngữ “thương mại cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề nảy sinh ra từ mọi mối quan hệ mang tính chất thương mại, dù có hay không có hợp đồng. Các mối quan hệ mang tính thương mại này bao gồm, nhưng không phải chỉ bao gồm, các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch thương mại nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại; ủy thác hoa hồng; cho thuê dài hạn; xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công trình; đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh và các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ”.

Định nghĩa hoạt động thương mại trong Luật thương mại Việt Nam vì vậy cũng chưa phù hợp với Hiệp định thương mại Việt – Mỹ. Theo Hiệp định này thì từ “thương mại” bao gồm thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, thương mại trong đầu tư và thương mại liên quan đến sở hữu trí tuệ.

Như vậy, mở rộng đối tượng điều chỉnh của Luật thương mại là việc chắc chắn cần làm nhưng mở rộng như thế nào để sự điều chỉnh của Luật thương mại thật sự có hiệu quả. Đặc biệt quy định các chế định cụ thể của Luật thương mại đòi hỏi phải có một cơ sở lý luận thấu đáo.

2. Sự tồn tại của Bộ luật dân sự Việt Nam – với đối tượng điều chỉnh chủ yếu là các quan hệ tài sản – đã và sẽ đặt ra một vấn đề lý luận về phạm vi áp dụng của Luật thương mại. Ở bất kỳ quốc gia nào thừa nhận tính nhị nguyên của “Luật tư” (vừa có luật thương mại vừa có luật dân sự), mối tương quan và quan hệ tác động giữa hai đạo luật này cũng cần được làm rõ. Điều này đã được nhiều nhà khoa học pháp lý Việt Nam nhận diện và kiến nghị các giải pháp. PGS-TS Nguyễn Thị Mơ khi xác định các bất cập của Luật thương mại 1997 nói riêng và pháp luật thương mại Việt Nam nói chung đã chỉ rõ “Vị trí

của pháp luật thương mại Việt Nam chưa được định hình rõ trong hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam”1. Chúng tôi hoàn toàn đồng tình với quan điểm này. Tuy nhiên, việc cho rằng điểm bất cập nêu trên trong pháp luật thương mại Việt Nam thể hiện ở chỗ chúng ta chưa xác định được “đây có phải là một ngành luật độc lập hay không”, dẫn đến việc “lúng túng trong việc phân định mối quan hệ giữa pháp luật thương mại với pháp luật kinh tế”2, theo chúng tôi cần xem xét thêm.

Điểm mấu chốt ở đây vẫn là tính chất và sự tương thích giữa pháp luật dân sự và luật thương mại. “Pháp luật kinh tế” Việt Nam cho đến nay đã trở thành một phạm trù quá đặc thù. Trong khi đó, trước yêu cầu phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam cũng như sự hội nhập và phù hợp với pháp luật, tập quán và thông lệ quốc tế, thì sự mâu thuẫn giữa Bộ luật dân sự – Luật thương mại – Pháp lệnh hợp đồng kinh tế thực sự là một hiện tượng khó lý giải cho các luật sư, luật gia và nhà đầu tư nước ngoài.

3. Xét về mặt khách quan, Luật thương mại là để điều chỉnh các hành vi, hoạt động thương mại. Xét về mặt chủ quan Luật thương mại chỉ để dành cho các “thương nhân” tức là người thực hiện hoạt động kinh doanh và coi đó là “nghề nghiệp chính của mình?”. Quan điểm này là quan điểm của pháp luật thương mại Pháp và một số nước châu Âu.

Đi theo hướng này chúng ta sẽ phải xử lý một loạt các vấn đề như “hành vi thương mại hỗn hợp”, hành vi thương mại do phụ thuộc v.v… Trong khi xu thế “thương mại hóa” các quan hệ dân sự đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, nếu Luật thương mại Việt Nam chỉ dành để điều chỉnh mối quan hệ giữa các thương nhân thì tính hiệu quả của Luật thương mại là điều đáng e ngại. Cũng cần nhắc thêm rằng Luật pháp Hoa Kỳ không phân biệt Luật dân sự và Luật thương mại. Tất cả những người nào tham gia vào các giao dịch thương mại đều có thể trở thành chủ thể của luật thương mại, có quyền áp dụng các quy phạm pháp luật thương mại cho mối quan hệ của mình.

4. Trong xã hội hiện đại, khi mà các thành quả của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, của công nghệ thông tin đã trở thành những yếu tố thiết yếu trong cuộc sống, các quan hệ thương mại đã và sẽ chịu tác động sâu sắc. Thương mại điện tử đang ngày càng phát triển, thể hiện những ưu việt và cả những bất cập, nguy cơ cho các bên tham gia. Luật thương mại mới không thể không có những điều khoản về lĩnh vực mới mẻ này. Hơn nữa, khi pháp lệnh thương mại điện tử đang soạn thảo, sự thống nhất giữa hai văn bản này cần phải chú trọng đúng mức.

II. MỘT SỐ NGUYÊN TẮC LÝ LUẬN ĐỂ SOẠN THẢO LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM MỚI

Đã có những nghiên cứu và đề xuất về những nguyên tắc chủ yếu trong việc tiến hành sửa đổi Luật thương mại Việt Nam 1997. Có thể thấy rằng, đây cũng là những nguyên tắc chung trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam. Đó là: bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm độc lập chủ quyền, bảo đảm định hướng hội nhập kinh tế quốc tế, sự phù hợp của pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế, với tập quán và thông lệ quốc tế.

Tuy nhiên, ngoài những nguyên tắc chung nêu trên, trong việc soạn thảo Luật thương mại mới (hoặc một Bộ luật thương mại – như đã có ý kiến đề xuất) cần thống nhất một số nguyên tắc mang tính chất lý luận chuyên ngành. Chỉ trên cơ sở giải quyết được những vấn đề này, mới có thể định hướng và xử lý những nội dung cụ thể trong luật thương mại sửa đổi.

1. Trước hết, theo chúng tôi, cần xác định Luật thương mại là một văn bản pháp luật mang tính riêng biệt để giải quyết những quan hệ tài sản đặc thù. Tính đặc thù của các quan hệ tài sản do Luật thương mại điều chỉnh là mục đích thu lợi nhuận, là hành vi kinh doanh. Do vậy, Luật thương mại phải đạt được mục tiêu là tạo thuận lợi, hỗ trợ cho các cá nhân, pháp nhân tiến hành hoạt động thương mại – trong một khuôn khổ pháp lý hợp lý.

Nhìn lại lịch sử, chúng ta thấy khởi thủy Luật thương mại là luật của các thương nhân, do chính các thương nhân tự quy ước để các giao dịch của họ được tiến hành một cách đơn giản, nhanh chóng, với những công cụ có tính chất bảo đảm cho các giao dịch này như ngân hàng, hối đoái v.v… Khi các nhà nước điển hóa luật thương mại (đầu tiên là Pháp vào năm 1807) thì vẫn tôn trọng nguyên tắc này và quy định thêm những chế định nhằm bảo đảm quyền lợi của Nhà nước và các bên thứ ba trong các giao dịch thương mại. Một trong những chế định quan trọng trong lĩnh vực này chính là chế định về đăng ký kinh doanh và công khai hóa các chủ thể kinh doanh. Do vậy, theo chúng tôi Luật thương mại Việt Nam mới cũng phải bảo đảm được hai nguyên tắc: bảo vệ lợi ích của Nhà nước và những bên thứ ba trong các giao dịch thương mại, nhưng trước hết và trên hết Luật thương mại phải là cơ sở pháp lý tin cậy và hiệu quả cho các chủ thể, kinh doanh là “kim chỉ nam” cho họ trong các giao dịch này.

2. Xuất phát từ đặc điểm này, luật thương mại cần được xác định là một văn bản của “luật tư”. Luật thương mại phải dựa trên một nền tảng pháp lý là “Bộ luật dân sự”. Các quy định của Luật thương mại phải phù hợp và không lặp lại các quy định của Bộ luật dân sự. Đặc biệt quan trọng là các quy định của luật thương mại phải thể hiện được tính chất đặc thù của các giao dịch thương mại, thực sự điều chỉnh hành vi của các chủ thể quan hệ pháp luật thương mại. Tuy nhiên, với tính chất là một văn bản “luật tư”, luật thương mại phải chứa đựng phần lớn các quy phạm “hướng dẫn” mà không thể là các quy phạm “mệnh lệnh”, bảo đảm tối đa nguyên tắc “tự thỏa thuận” của các bên giao dịch.

3. Không thể duy trì đối tượng hạn hẹp của Luật thương mại 1997, cũng như cần mở rộng phạm vi áp dụng của Luật thương mại mới. Khi tiến hành mở rộng đối tượng điều chỉnh và phạm vi áp dụng của Luật thương mại mới cần tôn trọng các văn bản pháp luật quốc tế mà chúng ta đã tham gia ký kết hoặc gia nhập để có những quy định tương thích nhằm hỗ trợ quá trình thực hiện các điều ước quốc tế song phương và đa phương. Tuy nhiên, việc mở rộng đối tượng điều chỉnh của Luật thương mại sửa đổi không đồng nhất việc hủy bỏ các văn bản pháp luật cá biệt, đã tồn tại và đang điều chỉnh hiệu quả các quan hệ pháp luật thương mại. Theo chúng tôi khái niệm “thương mại” phải được định nghĩa theo nghĩa rộng, nhưng không phải tất cả các hành vi được xác định là “thương mại” đều phải được điều chỉnh trong luật thương mại mới.

4. Trong điều kiện hiện nay, luật thương mại không nên chỉ là đạo luật của riêng các “thương nhân”. Có thể đưa khái niệm “thương nhân” vào luật hoặc không, nhưng phạm vi áp dụng của luật thương mại mới không thể giới hạn là một văn bản pháp luật dành riêng cho giới thương nhân. Thiết nghĩ, đối với các hành vi thương mại hỗn hợp (chiếm số lượng ngày càng nhiều trong lưu thông dân sự) các bên nên được công nhận quyền lựa chọn luật pháp (luật dân sự hoặc luật thương mại) áp dụng điều chỉnh mối quan hệ của mình. Ưu tiên trong sự lựa chọn này nên để dành cho bên tham gia giao dịch không phải với mục đích kinh doanh. Đây cũng là một thực tế pháp lý tồn tại ở nhiều nước. Với điều kiện Việt Nam, sự tồn tại song song của Bộ luật dân sự và luật thương mại là phù hợp. Có nghĩa là chúng ta cần một đạo luật thương mại (có thể là luật và tiến tới là Bộ luật) độc lập. Nhưng đạo luật này chỉ phát huy hiệu quả nếu nó được các bên tham gia vào giao dịch “tin tưởng” lựa chọn như một công cụ pháp lý điều chỉnh mối quan hệ của mình.

5. “Quản lý nhà nước” đối với hoạt động thương mại trong luật thương mại mới phải được thực hiện bằng công cụ của “pháp luật tư” mà không thể là các quy định mang tính chất hành chính như các quy định của luật thương mại 1997. Theo chúng tôi, chức năng quản lý nhà nước của Bộ thương mại và các cơ quan ban ngành liên quan đã được quy định trong các văn bản về chức năng nhiệm vụ của các cơ quan này. Quản lý nhà nước bằng biện pháp luật pháp hành chính phải được xử lý thông qua các chế định hành chính. Trong luật thương mại, thông qua việc quy định quyền và nghĩa vụ của các bên giao dịch thương mại, nhà nước áp dụng các biện pháp chế tài mang tính chất tài sản. Đó chính là quản lý nhà nước hoạt động thương mại. Các quy định về chính sách thương mại phải nằm trong các văn bản pháp luật cá biệt mà không nên lồng ghép vào văn bản luật thương mại. Công cụ của “pháp luật tư” được sử dụng để điều chỉnh các mối quan hệ pháp luật thương mại chính là hợp đồng.

6. Luật thương mại mới không thể duy trì sự phân biệt giữa năng lực hành vi thương mại trong nước và năng lực hành vi thương mại với nước ngoài. Tiếp tục đường lối mở rộng quyền kinh doanh thương mại, đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta nên thừa nhận năng lực ký kết hợp đồng nội địa và hợp đồng mua bán ngoại thương là những khái niệm đồng nhất. Để bảo đảm quyền lợi cho các doanh nghiệp trong nước, việc xác định năng lực tài chính của các doanh nghiệp và đối tác nước ngoài phải được thực hiện triệt để bởi các cơ quan xúc tiến thương mại trong và ngoài nước.

7. Cần xem xét lại tính cần thiết của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế. Với các quy định của Bộ luật dân sự và Luật thương mại, việc điều chỉnh quan hệ pháp lý dân sự thương mại đã có một cơ sở pháp lý vững chắc. Mục đích, đối tượng và phạm vi áp dụng của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế cần phải được xem xét một cách khoa học, biện chứng. Theo chúng tôi, việc sửa đổi Pháp lệnh hợp đồng kinh tế là không cần thiết nếu không nói là thừa.

III. MỘT SỐ CHẾ ĐỊNH CHỦ YẾU CỦA LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM SỬA ĐỔI

1. Chúng tôi hoàn toàn đồng tình với quan điểm được hầu hết các tác giả đề xuất hiện nay là phải mở rộng đối tượng và phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại. Ý nghĩa chủ đạo là không giới hạn khái niệm thương mại vào mua bán hàng hóa, mặc dù chắc chắn mua bán hàng hóa là nội dung quan trọng của Luật thương mại.

Để có thể làm việc này một cách hiệu quả, trước hết cần thừa nhận khái niệm “thương mại” theo nghĩa được sử dụng trong các văn bản pháp luật quốc tế. Có nghĩa là “thương mại” bao hàm những vấn đề nảy sinh từ tất cả các mối quan hệ có tính chất thương mại, tức là tính chất thu lợi nhuận.

Có hai cách để chúng ta tiến hành định nghĩa “thương mại”. Một là chúng ta sẽ theo kiểu liệt kê các giao dịch được xem là thương mại: mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, phân phối, đại diện đại lý thương mại, bao tiêu, thuê, cho thuê, xây dựng, tư vấn, cơ khí chế tạo, sở hữu công nghiệp, vận tải hành khách… Cần lưu ý là định nghĩa của Uncitral về “thương mại” cũng theo kiểu liệt kê. Hai là, chúng ta định nghĩa “thương mại” là tất cả các quan hệ có tính chất thương mại, tức là tính chất thu lợi nhuận, không hạn chế là các quan hệ này sẽ phát sinh trong những lĩnh vực nào. Chúng tôi cho rằng cách xử lý thứ hai là phù hợp. Tuy nhiên, việc định nghĩa “thương mại” không đồng nghĩa với việc xác định đối tượng và phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại mới là tất cả các quan hệ này. Cụ thể, trong Luật thương mại mới thương mại được hiểu là tất cả các quan hệ phát sinh trong quá trình hoạt động với mục đích thu lợi nhuận.

2. Đối tượng điều chỉnh của Luật thương mại “là các quan hệ thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, thương mại sở hữu trí tuệ và thương mại đầu tư”.

3. Phạm vi áp dụng của Luật thương mại: “Luật thương mại áp dụng cho tất cả các cá nhân, tổ chức trong thực hiện hành vi thương mại”.

Việc định nghĩa “thương mại” theo nghĩa rộng và giới hạn đối tượng điều chỉnh của đạo luật thương mại như vậy thỏa mãn được nhiều yêu cầu:

– Thứ nhất việc định nghĩa thương mại theo nghĩa rộng là rất cần thiết cho mục đích hội nhập pháp luật quốc tế. Nó cũng đặc biệt quan trọng cho việc xác định thẩm quyền xét xử, giải quyết tranh chấp của các trong tài thương mại, nhất là khi vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài.

– Việc giới hạn đối tượng điều chỉnh của Luật vừa đảm bảo được sự điều chỉnh của Luật thương mại đối với những lĩnh vực thương mại quan trọng, vừa không làm xáo trộn phá vỡ sự ổn định của các văn bản pháp luật cá biệt.

– Việc mở rộng phạm vi áp dụng của Luật thương mại cho phép các chủ thể giao dịch hỗn hợp (một bên là thương nhân, một bên không phải là thương nhân) áp dụng luật thương mại cho các dịch vụ của mình. Hiệu quả của áp dụng của luật thương mại sẽ được tăng lên đáng kể.

4. “Thương mại hàng hóa” là chế định quan trọng của luật thương mại do vậy luật thương mại cần định nghĩa khái niệm “hàng hóa” trong luật thương mại. Việc định nghĩa “hàng hóa” cũng cần đi theo hướng rộng: bao gồm hàng hóa hữu hình, vô hình, quyền tài sản, các loại chứng từ có giá, các loại hàng hóa đã có và các loại hàng hóa sẽ có trong tương lai… Nhưng các quy định của luật thương mại điều chỉnh quan hệ mua bán hàng hóa chỉ giới hạn vào một số đối tượng vì việc mua bán các hàng hóa đặc thù cần được xử lý theo các văn bản cá biệt.

5. Liên quan đến “thương mại dịch vụ” cần đưa khái niệm “dịch vụ” vào luật. Cần thiết phải phân biệt khái niệm “hàng hóa” và “dịch vụ” để có quy định thích hợp cho các hành vi thương mại trong lĩnh vực này. Khi định nghĩa khái niệm dịch vụ cần đi theo hướng “mở” tức là nêu những đặc điểm của “dịch vụ” và dự trù trường hợp có những loại hình dịch vụ mới phát sinh.

6. Công cụ pháp lý chủ yếu của hoạt động thương mại là hợp đồng. Trong luật thương mại mới cần có một chương về các nguyên tắc và những đặc điểm quan trong của hợp đồng thương mại. Chính trong chương này phải thể hiện được mục đích của luật thương mại là các quy định về những thủ tục pháp lý đơn giản, nhanh chóng của các giao dịch thương mại.

7. Cần có một chương riêng về hợp đồng mua bán hàng hóa. Chương này không được lặp lại những quy định của chương về Hợp đồng thương mại. Các quy định của chương này cần cụ thể, hướng dẫn giải quyết những tình huống thông thường trong thương mại hàng hóa. Những vấn đề cụ thể như đề nghị giao kết hợp đồng, chấp nhận giao kết hợp đồng, với những tình huống cụ thể (thông qua bán đấu giá, ký hợp đồng qua mạng, qua quảng cáo), đại diện giao kết hợp đồng, hình thức hợp đồng, giá trị các điều khoản cơ bản tạo thành nội dung của hợp đồng v.v… Vấn đề chuyển giao rủi ro và chuyển quyền sở hữu cũng cần được xử lý thấu đáo.

8. Các quy định về chế tài, về giải quyết tranh chấp của luật thương mại cần được đưa vào một chương riêng. Nội dung quan trọng của chương này là cách áp dụng các loại chế tài; các loại thời hiệu khiếu nại (giữa các bên) và thời hiệu xét xử (của cơ quan xét xử tranh chấp) cũng cần được quy định cụ thể hơn.

Thiết nghĩ, luật thương mại nên quy định thời hạn khiếu nại với từng loại tranh chấp. Tất cả các quy định về thời hạn khiếu nại chỉ nên mang tính hướng dẫn.

9. Trong luật thương mại mới phải có điều khoản thừa nhận phương thức thương mại điện tử, cụ thể là một hoặc một số điều khoản quy định về giá trị pháp lý của các thông điệp dữ liệu trong các giao dịch điện tử. Mọi vấn đề liên quan đến thương mại điện tử sẽ được xử lý bằng một văn bản cá biệt.

Trên đây là một số vấn đề lý luận cơ bản trong việc sửa đổi luật thương mại 1997. Những vấn đề như cấu trúc và nội dung cụ thể trong các chương, điều của luật thương mại Việt Nam mới, đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu đề xuất.°

1,2 Những bất cập của pháp luật thương mại Việt Nam trước yêu cầu Việt Nam hội nhập về thương mại – Những kiến nghị về phương hướng và giải pháp tiếp tục hoàn thiện, PGS-TS Nguyễn Thị Mơ, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, số 1/2002, trang 5.

Tài liệu tham khảo

1. Michel Jeantin, Droit commercial, Précis Dalloz, 1992.

2. Nguyễn Thị Mơ, Những bất cập của pháp luật thương mại Việt Nam trước yêu cầu hội nhập, Tạp chí Kinh tế đối ngoại số 1/2002.

3. Fred Burk, Hiệp định thương mại Việt-Mỹ – Tác động đối với Luật thương mại, Tham luận tại hội thảo “Đánh giá 5 năm thực hiện Luật thương mại 1997”, Bộ Thương mại tổ chức 3/7/2003.

4. Luật thương mại qua 5 năm thực hiện, Báo cáo của Vụ pháp chế Bộ thương mại tại hội thảo “Đánh giá 5 năm thực hiện Luật thương mại 1997”, Bộ Thương mại tổ chức 3/7/2003.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 3/2003

HỌC LUẬT ĐỂ BIẾT LUẬT, HIỂU LUẬT, VẬN DỤNG LUẬT VÀ HOÀN THIỆN LUẬT - admin@phapluatdansu.edu.vn
%d bloggers like this: